Nâng vị thế doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Là một nền kinh tế có quy mô xuất khẩu ngày càng lớn, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao hơn nữa vị thế của doanh nghiệp Việt trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển dịch và “luật chơi” ngày càng khắt khe với những yêu cầu, tiêu chuẩn cao hơn, cơ hội để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn không chỉ nằm ở kết nối cung - cầu, mà còn ở năng lực đáp ứng và khả năng từng bước nâng cấp để trở thành những mắt xích có giá trị cao hơn.

Quang cảnh Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”. Ảnh: T.THIỆN

Quang cảnh Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”. Ảnh: T.THIỆN

Vị trí doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế

Tại Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” tổ chức ngày 18/9, TS. Đỗ Diệu Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới - cho biết, xét về quy mô thương mại, mức độ hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng từ 668,5 tỷ USD năm 2021 lên 930,05 tỷ USD năm 2025; kim ngạch xuất khẩu tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô thương mại chưa đi cùng với sự cải thiện tương xứng và ổn định về vai trò của khu vực doanh nghiệp trong nước. Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này giảm từ 26,4% năm 2021 xuống còn 22,7% năm 2025, trong khi khu vực FDI chiếm tới 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025.

Theo bà Hương, đây là khoảng cách cần được nhìn nhận rõ: một nền kinh tế có thể đạt quy mô xuất khẩu lớn nhờ sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia và mạng lưới sản xuất xuyên biên giới, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước được kết nối sâu hơn hoặc từng bước dịch chuyển lên những công đoạn, chức năng có giá trị cao hơn trong chuỗi.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp được kết nối với khu vực FDI, mà còn ở chất lượng của các mối liên kết. Bà Hương cho rằng, việc một đầu vào được mua từ doanh nghiệp nội địa chưa phản ánh doanh nghiệp đó đang đảm nhận chức năng nào trong chuỗi, sản phẩm có mức độ phức tạp ra sao và quan hệ cung ứng có tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy công nghệ, kỹ năng, năng lực quản trị hay không. Một mối quan hệ cung ứng có khả năng thúc đẩy nâng cấp phải giúp doanh nghiệp từng bước kiểm soát chất lượng, cải tiến quy trình, xử lý dữ liệu, phối hợp kỹ thuật, thậm chí tham gia thiết kế, thử nghiệm, cải tiến hoặc đồng phát triển sản phẩm.

Khoảng cách cũng thể hiện ngay trong năng lực nội tại của doanh nghiệp. Theo các chuyên gia, vấn đề không hẳn là doanh nghiệp Việt Nam thiếu từng nguồn lực riêng lẻ, mà là nhiều năng lực cần thiết chưa được hình thành đồng bộ. Đơn cử, một doanh nghiệp có thể sở hữu máy móc tương đối hiện đại nhưng hệ thống dữ liệu chưa tương thích; có chứng nhận chất lượng nhưng kiểm soát đầu vào chưa đầy đủ; có năng lực sản xuất nhưng thiếu nhân lực kỹ thuật; hoặc nhận thức rõ yêu cầu giảm phát thải nhưng chưa đủ khả năng đo lường, quản trị dữ liệu liên quan.

Trong khi đó, “luật chơi” của chuỗi cung ứng đang thay đổi rất mạnh mẽ. Nếu trước đây chất lượng, giá thành, quy mô sản xuất và độ tin cậy trong giao hàng là những điều kiện cốt lõi, thì nay nhà cung cấp còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, môi trường, lao động và quản trị rủi ro... Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ chứng minh sản phẩm đạt chuẩn, mà còn phải chứng minh hệ thống tạo ra sản phẩm có khả năng duy trì sự phù hợp trong suốt quá trình cung ứng.

Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến xuất khẩu VIETGO - chỉ ra một nghịch lý khác, đó là Việt Nam có nhiều nhà máy, công nhân, vùng nguyên liệu và sản phẩm, nhưng đội ngũ bán hàng quốc tế còn mỏng. Việc thiếu hiểu biết về logistics, thanh toán hay quy tắc xuất xứ…, có thể khiến doanh nghiệp dù có sản phẩm, thậm chí có cả khách hàng tiềm năng, vẫn chưa chuyển hóa được thành đơn hàng. Vì thế, theo ông Việt, doanh nghiệp thương mại cũng cần được nhìn nhận như một mắt xích tạo giá trị, bởi đây là lực lượng đảm nhiệm việc tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường, đàm phán và tổ chức chuỗi cung ứng.

Nhìn trong tổng thể đó, các chuyên gia nhấn mạnh, bài toán đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là “có sản xuất được hay không”, mà còn là khả năng đáp ứng đồng thời các yêu cầu về công nghệ, chất lượng, chi phí, quy mô, dữ liệu, tiêu chuẩn, thị trường và khả năng thích ứng. Đây chính là khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp và ngưỡng năng lực mà từng chuỗi cung ứng cụ thể đòi hỏi.

Các chuyên gia trao đổi tại Diễn đàn. Ảnh: T.THIỆN

Các chuyên gia trao đổi tại Diễn đàn. Ảnh: T.THIỆN

Chuyển từ kết nối cơ hội sang phát triển nhà cung cấp

Từ những điểm nghẽn trên, các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu thay đổi cách tiếp cận, đó là không chỉ kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp, mà phải hình thành quá trình phát triển nhà cung cấp dựa trên nhu cầu thực tế của chuỗi.

Theo đó, TS. Đỗ Diệu Hương cho rằng, hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ việc cung cấp từng công cụ riêng lẻ sang xác định trước chuỗi đang cần gì và doanh nghiệp còn thiếu năng lực nào. Từ nhu cầu mua hàng và yêu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp dẫn dắt, có thể xác định những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng, đánh giá khoảng cách năng lực và xây dựng lộ trình nâng cấp; trên cơ sở đó, phối hợp các nguồn lực về công nghệ, nhân lực, dữ liệu, tiêu chuẩn và tài chính.

Cách làm này cũng đòi hỏi thay đổi vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt. Theo đó, doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp đầu chuỗi trong nước cần tham gia từ khâu cung cấp thông tin về nhu cầu mua hàng, xác định yêu cầu kỹ thuật đến sàng lọc doanh nghiệp tiềm năng, phản hồi về khoảng cách năng lực... Liên kết vì thế không nên chỉ dừng ở những cuộc gặp kết nối cung - cầu, mà cần đi sâu vào hỗ trợ kỹ thuật, cải tiến quy trình, thử nghiệm linh kiện, chia sẻ dự báo nhu cầu và phối hợp phát triển sản phẩm.

Từ góc độ cơ quan quản lý nhà nước, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương - cho biết, Bộ Công Thương đang xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng, trước mắt ở một số ngành như điện tử và ô tô, nhằm xác định tại Việt Nam đã có những nhà cung ứng nào, sản xuất được sản phẩm gì và thị trường có khả năng phát triển ra sao.

Cùng với dữ liệu và thị trường, vốn và công nghệ là những điều kiện không thể thiếu. Theo ông Quân, doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong tiếp cận vốn đầu tư, trong khi công nghệ cao không dễ tiếp cận do doanh nghiệp nước ngoài thường không chuyển giao. Vì vậy, cần có phương thức kết nối doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp trong nước có nhu cầu tiếp nhận công nghệ phù hợp.

Ở góc độ chính sách tài chính, bà Lê Thị Duyên Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam - đề xuất, chuyển trọng tâm chính sách thuế từ thu hút đầu tư sang nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt Nam, hướng tới trở thành những mắt xích có giá trị cao trong chuỗi. Theo đó, ưu đãi cần gắn với kết quả như doanh thu cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, đầu tư R&D hoặc chuyển đổi công nghệ, thay vì chỉ dựa vào địa bàn hay quy mô vốn.

Trong khi đó, ông Nguyễn Tuấn Việt nhấn mạnh yêu cầu mang tính thị trường là doanh nghiệp phải hiểu và khai thác tốt hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA). Theo đó, quy tắc xuất xứ cần được tính toán ngay từ đầu, gắn với việc lựa chọn thị trường, sản phẩm, nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất và tận dụng ưu đãi thuế. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ hướng tới những thị trường có yêu cầu cao, cần lựa chọn thị trường phù hợp với năng lực hiện tại, đáp ứng đúng yêu cầu và từng bước nâng cấp./.

TRẦN THIỆN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/nang-vi-the-doanh-nghiep-viet-trong-chuoi-cung-ung-toan-cau