Ngân hàng tìm cách giải bài toán vốn ngắn nuôi vốn dài

Việc Ngân hàng Nhà nước nới một số quy định về an toàn vốn giúp các nhà băng có thêm dư địa tăng trưởng, nhưng áp lực thanh khoản vẫn là thách thức chưa dễ hóa giải...

Ngân hàng Nhà nước liên tục phát đi thông điệp hỗ trợ giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song mặt bằng lãi suất trên thị trường vẫn chưa có nhiều dư địa đi xuống.

Đằng sau diễn biến này là bài toán thanh khoản ngày càng phức tạp của hệ thống ngân hàng khi nhu cầu tín dụng trung và dài hạn tăng nhanh hơn đáng kể so với tốc độ huy động vốn.

Sự mất cân đối về kỳ hạn không chỉ khiến các nhà băng phải đẩy mạnh phát hành trái phiếu với lãi suất cao mà còn buộc cơ quan quản lý phải nới một số quy định nhằm tạo thêm dư địa cho tăng trưởng tín dụng.

NGÂN HÀNG TĂNG TỐC HUY ĐỘNG VỐN DÀI HẠN

Báo cáo ngành ngân hàng mới đây của Chứng khoán SHS cho thấy xu hướng lệch pha kỳ hạn trong hệ thống tín dụng đang ngày càng rõ nét.

Tính đến cuối quý 1/2026, dư nợ cho vay trung và dài hạn tăng 5,95% so với đầu năm, cao hơn đáng kể mức tăng 1,61% của tín dụng ngắn hạn. Theo đó, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn tiếp tục tăng lên 47,4% tổng dư nợ, từ mức 46,4% vào cuối năm 2025.

Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế vẫn ở mức rất lớn, đặc biệt ở các lĩnh vực như bất động sản, hạ tầng và sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu vào của các ngân hàng lại chủ yếu đến từ tiền gửi ngắn hạn của người dân và doanh nghiệp.

Theo giới phân tích, khi sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có kỳ hạn nhiều năm, ngân hàng sẽ đối mặt với áp lực thanh khoản ngày càng lớn. Để đảm bảo khả năng chi trả và duy trì nguồn vốn ổn định, các tổ chức tín dụng buộc phải cạnh tranh huy động bằng lãi suất cao hơn, khiến chi phí vốn khó giảm ngay cả khi lãi suất điều hành được giữ ổn định.

Nguồn: Chứng khoán SHS

Nguồn: Chứng khoán SHS

Chia sẻ tại một talkshow gần đây, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, cho rằng sự mất cân đối giữa huy động và cho vay đang là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến mặt bằng lãi suất tiếp tục neo ở mức cao.

"Có những ngân hàng cho vay nhiều hơn huy động. Trong khi theo nguyên tắc quản trị rủi ro, tỷ lệ cho vay thường chỉ nên ở mức khoảng 85%, tối đa gần 90% huy động", TS Võ Trí Thành phân tích.

Khi tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động, áp lực thanh khoản sẽ xuất hiện và các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất để hút thêm dòng tiền từ thị trường.

Theo chuyên gia này, áp lực còn đến từ sự mất cân đối về cơ cấu kỳ hạn vốn. Hiện khoảng 70-80% nguồn vốn huy động trong hệ thống là ngắn hạn nhưng dòng tiền tín dụng lại chảy mạnh vào các khoản vay trung và dài hạn.

Đáng chú ý, tín dụng bất động sản tiếp tục tăng nhanh hơn nhiều so với mặt bằng chung. Nếu tín dụng toàn hệ thống năm 2025 tăng khoảng 19% thì tín dụng bất động sản tăng tới 26-27%.

"Có những ngân hàng, dư nợ bất động sản chiếm hơn một nửa tổng tín dụng. Điều này tạo áp lực rất lớn lên thanh khoản", TS Võ Trí Thành nhận định.

Trong bối cảnh đó, các ngân hàng đang tìm mọi cách để bổ sung nguồn vốn dài hạn, trong đó kênh trái phiếu doanh nghiệp trở thành lựa chọn đáng chú ý.

Sau giai đoạn khá trầm lắng đầu năm, thị trường trái phiếu ngân hàng đang chứng kiến sự trở lại mạnh mẽ. Theo số liệu của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), các ngân hàng đã phát hành hơn 61.000 tỷ đồng trái phiếu trong 5 tháng đầu năm 2026. Riêng tháng 5 ghi nhận khoảng 33.000 tỷ đồng được huy động thông qua hơn 30 đợt phát hành thành công.

Mặt bằng lãi suất trái phiếu cũng tăng đáng kể so với năm ngoái.

Vietcombank vừa phát hành một lô trái phiếu với lãi suất cố định 7,9%/năm, cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với đợt phát hành cuối năm trước. BIDV cũng liên tiếp huy động vốn với lãi suất trên 8,1%/năm.

Ở khối ngân hàng tư nhân, VietABank phát hành trái phiếu lãi suất tới 9%/năm, cao hơn đáng kể so với mức lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn. MB vừa huy động gần 6.000 tỷ đồng thông qua 10 lô trái phiếu với lãi suất 8,3-8,4%/năm, trong khi VPBank phát hành 1.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm với lãi suất cố định 8,6%/năm.

HDBank, OCB cùng nhiều ngân hàng khác cũng đang triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn.

Nguồn: Chứng khoán Mirae Asset

Nguồn: Chứng khoán Mirae Asset

Theo Công ty Chứng khoán Mirae Asset, tình hình căng thẳng thanh khoản nhiều khả năng vẫn chưa cải thiện trong tháng 6 sau động thái điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn trong công thức tính LDR tăng trở lại từ 0% (áp dụng từ đầu năm 2026) lên 20% từ 15/5.

Các chuyên gia của Mirae Asset cho biết tỷ lệ LDR thực tế cuối quý 1 đang tiệm cận rất gần ngưỡng tối đa và thu hẹp dư địa điều tiết cho các ngân hàng. Vì vậy, mặc dù Ngân hàng Nhà nước tích cực định hướng giảm lãi suất, xu hướng chung cho thấy lãi suất duy trì hơn là giảm đáng kể.

Đồng quan điểm, FiinRatings nhận định nhu cầu huy động vốn của ngành ngân hàng sẽ tiếp tục ở mức cao trong nửa cuối năm 2026 khi khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn chưa thể nhanh chóng thu hẹp.

Theo FiinRatings, hàng loạt ngân hàng đã công bố kế hoạch phát hành trái phiếu quy mô rất lớn như BIDV dự kiến huy động tới 41.000 tỷ đồng, VPBank 30.000 tỷ đồng, Sacombank 20.000 tỷ đồng hay Agribank khoảng 15.000 tỷ đồng.

"Nhu cầu vốn của các ngân hàng trong nửa cuối năm nhiều khả năng vẫn duy trì ở mức cao, cấp thiết khi chênh lệch giữa huy động và tín dụng chưa thể sớm thu hẹp, cộng thêm nhu cầu bổ sung vốn cấp 2 để đáp ứng các tỷ lệ an toàn theo quy định", chuyên gia FiinRatings nhận định.

CHÍNH THỨC NỚI TRẦN TỶ LỆ VỐN NGẮN HẠN CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN

Trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng, Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư 25/2026 sửa đổi một số quy định quan trọng liên quan đến các tỷ lệ an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.

Điểm đáng chú ý nhất là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Đây là sự thay đổi đáng kể bởi trước đó cơ quan quản lý đã mất nhiều năm liên tục siết dần tỷ lệ này, từ 40% xuống 37%, rồi 34% và cuối cùng là 30% kể từ tháng 10/2023.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn là một trong những tỷ lệ quan trọng phản ánh mức độ chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và tài sản sinh lời của ngân hàng. Trần tỷ lệ càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có thời hạn dài, qua đó gia tăng khả năng mở rộng tín dụng trung và dài hạn.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn của một số ngân hàng

Tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn của một số ngân hàng

Theo đánh giá của Chứng khoán KBSV, quy định mới có thể mang lại nhiều lợi ích cho hệ thống ngân hàng.

Trước hết là biên lãi ròng (NIM). Việc nới trần tỷ lệ cho phép các ngân hàng thương mại gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn (COF) thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với COF cao hơn đáng kể và cải thiện NIM.

Thứ hai là về tăng trưởng tín dụng. Trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực. Việc điều chỉnh SMLR lên 40% góp phần gia tăng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm bớt áp lực về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của hệ thống.

Tuy nhiên, các chuyên gia từ KBSV cũng không loại trừ khả năng mức độ mất cân đối giữa kỳ hạn nguồn vốn và kỳ hạn tài sản gia tăng khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn.

Do đó, cùng với xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của ngành ngân hàng, yêu cầu về quản trị tài sản – nguồn vốn và kiểm soát rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất biến động như hiện tại.

Diễn biến trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, NIM, và tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng

Diễn biến trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, NIM, và tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng

KBSV kỳ vọng nhóm ngân hàng sở hữu tỷ lệ SMLR tiệm cận mức trần 30% (theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN); danh mục cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, và nguồn vốn CASA dồi dào sẽ có lợi thế rõ nét hơn.

Cùng với việc nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh một số quy định liên quan đến tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).

Cụ thể, Thông tư sửa đổi quy định về tổng tiền gửi dùng để tính LDR theo hướng tiếp tục loại trừ tiền ký quỹ và tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng; tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, đồng thời cho phép chỉ loại trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước hoặc một tỷ lệ khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ. Điều này đồng nghĩa với việc một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ LDR của các ngân hàng.

Thông tư cũng bãi bỏ Thông tư số 08/2020/TT-NHNN và Thông tư số 08/2026/TT-NHNN kể từ ngày văn bản mới có hiệu lực. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 08/2026 cho phép ngân hàng tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc vào mẫu số khi xác định LDR, thay vì loại bỏ hoàn toàn như trước đó.

Nguyễn Lan

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/ngan-hang-tim-cach-giai-bai-toan-von-ngan-nuoi-von-dai-post571169.html