Ngành du lịch sẽ không chạy theo số lượng, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng
Quý 1/2026, du lịch Việt Nam ghi nhận hơn 6,7 triệu lượt khách quốc tế – mức cao nhất từ trước đến nay. Nhưng ngay tại thời điểm tăng trưởng này, cơ quan quản lý đã đặt ra một yêu cầu khác: ngành du lịch không tiếp tục chạy theo số lượng…

Đối với giai đoạn 2026 - 2031, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam xây dựng ba kịch bản tăng trưởng.
Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, quý 1/2026 ngành đã đón hơn 6,7 triệu lượt khách quốc tế và khoảng 37 triệu lượt khách nội địa, tổng thu đạt 267 nghìn tỷ đồng. Đây là mức tăng tích cực, nhưng đi kèm là những yếu tố bất lợi từ bên ngoài. Giá nhiên liệu tăng do căng thẳng địa chính trị kéo chi phí hàng không đi lên, trong khi xu hướng thắt chặt chi tiêu toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng đến hành vi du lịch.
Cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh thừa nhận, dù thị trường Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng “các tác động gián tiếp tới tâm lý tiêu dùng và hoạt động kinh doanh là khá rõ nét”. Điều này đặt ra một nghịch lý: lượng khách vẫn tăng, nhưng khả năng chi tiêu không còn chắc chắn tăng tương ứng.
Tại buổi làm việc về kịch bản tăng trưởng và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Du lịch năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2031 mới đây, trên cơ sở phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đã xây dựng hai kịch bản tăng trưởng cho năm 2026.

Xu hướng thắt chặt chi tiêu toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng đến hành vi du lịch.
Ở kịch bản cao, trong điều kiện tình hình quốc tế sớm ổn định, các xung đột được kiểm soát và các giải pháp hỗ trợ phát huy hiệu quả, ngành phấn đấu hoàn thành mục tiêu Chính phủ giao là 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa và tổng thu 1,125 triệu tỷ đồng.
Trong đó, quý 1 đã đạt trên 6,7 triệu lượt khách quốc tế và 37 triệu lượt khách nội địa. Quý 2 dự kiến đạt khoảng 5,6 triệu lượt khách quốc tế và 44 triệu lượt khách nội địa. Quý 3 kỳ vọng đạt 5,6 triệu lượt khách quốc tế và 45 triệu lượt khách nội địa. Quý 4 đạt khoảng 7 triệu lượt khách quốc tế và 24 triệu lượt khách nội địa.
Ở kịch bản thấp, trong trường hợp xung đột địa chính trị kéo dài, kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm hoặc phát sinh thiên tai, dịch bệnh, ngành dự kiến đạt khoảng 22,5 triệu lượt khách quốc tế và 130 triệu lượt khách nội địa. Theo đó, quý 2 ước đạt khoảng 5 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa; quý 3 ước đạt khoảng 4,8 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa; quý 4 ước đạt khoảng 5,9 triệu lượt khách quốc tế và 23 triệu lượt khách nội địa.
Đối với giai đoạn 2026 - 2031, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam xây dựng ba kịch bản tăng trưởng. Kịch bản thận trọng đặt mức tăng khách quốc tế khoảng 8 -10%/năm, đến năm 2030 đạt khoảng 35 - 38 triệu lượt khách.
Kịch bản cơ sở đạt mức tăng 12 - 15%/năm, hướng tới 40 - 45 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030. Ở kịch bản tăng trưởng cao, trong điều kiện có đột phá về thị thực, hàng không và chuyển đổi số, khách quốc tế có thể tăng 15 - 18%/năm, phấn đấu đến năm 2030 đạt 45 - 50 triệu lượt khách.

Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đã xây dựng hai kịch bản tăng trưởng cho năm 2026.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh cho biết ngành sẽ tập trung triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ trước mắt, trung hạn và dài hạn.
Cục cũng kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn về phát triển sản phẩm, đặc biệt là du lịch gắn với công nghiệp văn hóa, du lịch golf, du lịch tàu biển, du lịch đường sông, phát triển khu du lịch quốc gia, khu vực biên giới đất liền; đồng thời đề xuất nghiên cứu sửa đổi các quy định liên quan đến tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế nhằm tháo gỡ khó khăn cho du lịch MICE và các đoàn khách lớn kết hợp hội nghị, sự kiện.
Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Hồ An Phong nhấn mạnh một yêu cầu mang tính bước ngoặt: du lịch không thể tiếp tục phát triển theo chiều rộng như giai đoạn phục hồi sau đại dịch. “Điều quan trọng không chỉ là bao nhiêu lượt khách, mà là mức chi tiêu, thời gian lưu trú, khả năng lan tỏa tới các ngành khác và mức độ đóng góp thực chất vào GDP”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng theo số lượng đang dần thu hẹp, tăng trưởng buộc phải dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng. Nói cách khác, cùng một lượng khách, nếu kéo dài thời gian lưu trú thêm một ngày, tăng chi tiêu cho nghỉ dưỡng, giải trí, văn hóa và mua sắm, hiệu quả kinh tế mang lại sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc chỉ chạy theo lượng khách đến.
Từ định hướng đó, lãnh đạo Bộ yêu cầu tái cấu trúc mạnh hệ thống sản phẩm theo phân khúc chất lượng cao, nâng tỷ trọng lưu trú 4 - 5 sao, phát triển mạnh nghỉ dưỡng cao cấp, vui chơi giải trí chất lượng, du lịch chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ giá trị gia tăng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tăng doanh thu mà còn giảm áp lực lên môi trường, hạ tầng và tài nguyên điểm đến.

Du lịch không thể tiếp tục phát triển theo chiều rộng như giai đoạn phục hồi sau đại dịch.
Một nội dung được Thứ trưởng đặc biệt nhấn mạnh là xây dựng bộ chỉ số thống kê mới của ngành, phản ánh đầy đủ đóng góp thực chất của du lịch đối với nền kinh tế. Theo đó, cần đo lường không chỉ doanh thu lưu trú mà cả các giá trị lan tỏa sang hàng không, vận tải, viễn thông, tài chính, bán lẻ, bất động sản, ăn uống và các dịch vụ liên quan. Thứ trưởng cho rằng, chỉ khi lượng hóa được đầy đủ đóng góp của du lịch vào GDP thì mới có thể quản trị, điều hành tăng trưởng một cách khoa học.
Một thay đổi đáng chú ý là việc gắn trách nhiệm tăng trưởng với từng địa phương. “Hoạt động du lịch không diễn ra ở cơ quan quản lý trung ương mà diễn ra tại điểm đến”, Thứ trưởng Hồ An Phong nêu rõ, đồng thời yêu cầu xây dựng KPI cụ thể cho từng địa phương. Điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các quốc gia, mà còn giữa các địa phương trong cùng một quốc gia.
Bên cạnh các động lực truyền thống, Thứ trưởng đề nghị tiếp tục mở rộng các dư địa tăng trưởng mới, trong đó có du lịch đường sắt, đường thủy, đường biển, du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, du lịch nông nghiệp và du lịch MICE. Đặc biệt, du lịch đường sắt liên vận với Trung Quốc và xa hơn là châu Âu cần sớm được cụ thể hóa bằng các tuyến sản phẩm chuyên đề, tour liên quốc gia và các hành trình trải nghiệm mang tính biểu tượng.

Việc cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các quốc gia, mà còn giữa các địa phương trong cùng một quốc gia.
Song song với đó, chuyển đổi số tiếp tục được xác định là khâu đột phá. Theo lãnh đạo Bộ, nếu không tận dụng giai đoạn đầu tư công trung hạn hiện nay để hình thành các dự án lớn về du lịch thông minh, ngành có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển trong nhiều năm tới. Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số, nền tảng quản trị điểm đến, hệ thống dự báo thị trường và xúc tiến số sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới.











