TS. Nguyễn Đình Cung: 'Quản lý nên dựa trên quy chuẩn và hậu kiểm'
Ngày 20-4, là thời hạn để các bộ ngành phải trình phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh, theo chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng.
Để làm rõ hơn về ý nghĩa của đợt "tổng rà soát" này đối với công cuộc cải thiện môi trường kinh doanh, hướng đến mục tiêu tăng trưởng “2 con số” bền vững, phóng viên Báo ĐTTC đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, người đã có gần 30 năm trăn trở với vấn đề cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh.

TS. Nguyễn Đình Cung
Phóng viên: - Thưa ông, chưa đầy một tuần sau khi nhậm chức, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chốt thời hạn 20-4 để các bộ ngành phải trình phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD). Ông đánh giá thế nào về sự khẩn trương này?
TS. NGUYỄN ĐÌNH CUNG: - Tôi cho rằng đây là một tín hiệu rất mạnh mẽ, bởi trong cải cách, "áp lực thực thi" từ người đứng đầu luôn là yếu tố quyết định. Việc chốt thời hạn chỉ trong vòng 1 tuần (từ cuộc họp ngày 13-4 đến ngày 20-4) cho thấy Thủ tướng không chấp nhận sự trì trệ.
Tất nhiên cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của Chính phủ qua nhiều nhiệm kỳ. Ở mỗi giai đoạn, chúng ta cần một cú hích mới. Có thể nói, Thủ tướng Lê Minh Hưng đang tiếp nối tinh thần đó với một quyết tâm cao hơn, định lượng rõ ràng hơn: cắt giảm 30% số ngành nghề kinh doanh có điều kiện (giảm từ 198 ngành hiện có); giảm 50% thời gian và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; cắt giảm 100% điều kiện không còn phù hợp; phân cấp 70% thủ tục hành chính về cho địa phương quản lý.
Thế nhưng, kinh nghiệm từ những nỗ lực cắt giảm trước đây cho thấy rằng, muốn cắt giảm thực chất thì phải điểm danh chính xác đấy là điều kiện gì, thủ tục gì. Không “chỉ mặt đặt tên” được thì không bao giờ cắt được.
Mới đây, Bộ Tài chính đã tập hợp danh mục 198 ngành nghề kinh doanh có điều kiện và đối chiếu với mục tiêu cắt giảm 30%. Ông nhận định như thế nào về động thái này?
Tôi cho rằng việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh có điều kiện để cắt giảm vẫn được làm theo thói quen, chưa có phương pháp luận thống nhất. Nếu nhìn vào danh sách 198 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, có thể thấy tiêu chí xác định không nhất quán, có ngành nghề như khảo sát xây dựng, thiết kế công trình thì khá rõ, nhưng có khi lại là 1 cả ngành kinh tế (kinh doanh hóa chất, thủy sản…).
Chẳng hạn như "kinh doanh thủy sản", thực chất là một chuỗi hoạt động kinh tế, bao gồm hàng chục ngành nhỏ, có phải ngành nghề nào cũng cần điều kiện kinh doanh. Sản xuất ô tô cũng thế, một chiếc ô tô có hàng chục ngàn chi tiết, có sự tham gia của hàng trăm đơn vị; tương tự như máy tính, điện thoại, cuối cùng mới là lắp ráp.
Như vậy, có cần điều kiện cho tất cả các công đoạn ấy không? Nếu chia về các bộ quản lý khác nhau có khi một ngành nghề bao gồm hàng chục, thậm chí hàng trăm giấy phép con. Không khéo có khi cắt được 1 cành nhưng lại mọc ra “tua tủa” nhánh khác.
Để cắt giảm thực chất, triệt để, phải xây dựng được phương pháp luận về phân loại ngành nghề kinh doanh nói chung và và kinh doanh có điều kiện, nói riêng, từ đó mới thiết kế được điều kiện kinh doanh cụ thể, nếu thực sự cần thiết.
Tôi nói “thực sự”, vì theo tôi, có thể cắt giảm nhiều hơn nữa số điều kiện kinh doanh, chỉ giữ lại những ngành nghề liên quan đến chủ quyền, đến an ninh quốc gia… Sau khi có tiêu chí tiêu chuẩn rõ ràng rồi thì chuyển sang hậu kiểm là chính, khâu tiền kiểm chỉ áp dụng rất hạn chế; đồng thời thường xuyên rà soát, cập nhật để tiếp tục cắt giảm, dọn dẹp “rừng” thủ tục.
Trước đây, ông từng phát biểu rằng nếu bắt các bộ tự rà soát để bỏ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực mình quản lý thì họ khó mà làm triệt để, vì chẳng khác nào làm khó chính mình. Liệu rằng nhận định này có còn đúng trong bối cảnh hiện nay?
Nhận định này vẫn còn đúng trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, còn có một thực trạng rất đáng lo ngại là "tay phải không biết tay trái làm gì". Đã có trường hợp trong cùng một bộ nhưng bộ phận soạn thảo quy định mới và bộ phận đề xuất bỏ quy định cũ không liên thông với nhau, dẫn đến việc cắt giảm chỉ nằm trên giấy.
Tôi được biết một nghịch lý là bộ phận cắt giảm thủ tục hành chính của một bộ “rộng rãi” đề xuất thời hạn thi hành một quy định đến năm 2026, trong khi nghị định mới có hiệu lực từ năm 2025 đã bỏ hẳn thủ tục đó rồi.
Từ thực trạng đó, ông có những kiến nghị gì để cuộc cải cách này mang lại kết quả thực chất cho doanh nghiệp?
Cần thay đổi căn bản về phương thức thực hiện. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong các chỉ đạo gần đây thường xuyên đề cập đến công cụ quản lý “tam quy”: quy hoạch, quy chuẩn và quy chế. Phải đoạn tuyệt với tư duy "không quản được thì cấm", thay vào đó là quản lý dựa trên quy chuẩn và hậu kiểm. Nếu doanh nghiệp đáp ứng đúng quy chuẩn (ví dụ chuẩn xuất khẩu châu Âu, Nhật Bản), cơ quan nhà nước không cần can thiệp thêm bằng các điều kiện chuyên ngành rườm rà.
Về kỹ thuật lập pháp, để nhanh chóng có được con đường êm thuận cho cỗ xe kinh tế, có thể quán triệt cách làm mạnh mẽ thế này: nếu các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính bất hợp lý tồn tại nằm ở cấp nghị định, Chính phủ có thể ra nghị quyết bãi bỏ ngay lập tức. Nếu nằm ở luật, Quốc hội có thể ban hành một đạo luật sửa nhiều luật, đơn giản chỉ để bãi bỏ các điều luật cũ thay vì cứ loay hoay sửa đổi, bổ sung từng đạo luật.
Cùng với đó, thành lập bộ phận đánh giá, giám sát độc lập thường xuyên với thành phần có các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp, tổ chức xã hội bên ngoài để cùng tham gia đánh giá, phản biện các phương án ngay từ đầu cũng như theo dõi quá trình thực thi cắt giảm điều kiện kinh doanh của bộ ngành. Cơ quan này phải báo cáo hàng tháng để giám sát liên tục, không thể để các bộ tự báo cáo hàng năm theo kiểu “đã hoàn thành chỉ tiêu”.
Lần này Thủ tướng nhấn mạnh rằng các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu để "lọt" quy định gây khó cho doanh nghiệp. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?
Đây chính là áp lực thực thi lành mạnh mà tôi thường xuyên nhắc đến. Khi trách nhiệm được cá nhân hóa đến mức cao nhất, bộ máy sẽ phải chuyển động thật sự. Tôi mong muốn tinh thần của Thủ tướng Lê Minh Hưng được thấm nhuần xuống tận cấp chuyên viên. Đừng hỏi "làm sao để quản được", hãy hỏi "làm sao để doanh nghiệp phát triển tốt nhất". Đó mới là sự thay đổi triệt để về tư duy thể chế. Nếu làm được điều này, khối tư nhân sẽ thực sự trở thành động lực tăng trưởng chính, đưa kinh tế Việt Nam bứt phá như kỳ vọng của Chính phủ.











