Ngành GD&ĐT Đà Nẵng: Chuyển đổi số trong giáo dục phải giảm việc cho giáo viên
Thực hiện Chuyển đổi số, ngành giáo dục Đà Nẵng đang hướng đến khai thác dữ liệu để đổi mới quản trị và dạy học.
Bà Lê Thị Bích Thuận, Giám đốc Sở GD&ĐT TP Đà Nẵng cho biết, trọng tâm năm học 2026-2027 là chuẩn hóa dữ liệu, giảm thao tác hành chính, ứng dụng công nghệ an toàn và bảo đảm lợi ích thiết thực cho giáo viên, học sinh.
Dữ liệu làm nền tảng đổi mới quản trị
- Thưa bà, ngành giáo dục Đà Nẵng đã đạt được những kết quả gì trong chuyển đổi số và đâu là nhiệm vụ cần tập trung trong năm học 2026-2027?
- Thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ trong ngành giáo dục thành phố có chuyển biến tích cực. Hạ tầng công nghệ thông tin tại các trường từng bước được đầu tư, nâng cấp. Nhiều cơ sở giáo dục sử dụng phần mềm quản lý nhà trường, hồ sơ điện tử, chữ ký số và cơ sở dữ liệu ngành. Những ứng dụng này góp phần giảm giấy tờ, thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho giáo viên và phụ huynh. Trong dạy học, STEM/STEAM, Robotics, học liệu số, thư viện số và AI cũng được triển khai tại nhiều cơ sở.



Lãnh đạo Sở GD&ĐT Đà Nẵng tặng hoa cho đại diện các doanh nghiệp, địa phương, trường học tham gia Ngày hội Chuyển đổi số ngành GD&ĐT (ảnh trên), Khu vực trưng bày, trình diễn và trải nghiệm sản phẩm công nghệ của các trường học trong Ngày hội.
Tuy nhiên, dữ liệu tại một số nơi chưa cập nhật kịp thời, thiếu đồng bộ; hạ tầng, thiết bị và năng lực số giữa các trường chưa đồng đều. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tăng số lượng công cụ được sử dụng, mà phải bảo đảm công nghệ giải quyết được công việc cụ thể và đem lại hiệu quả thực chất.
Ngành sẽ tập trung rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về cơ sở giáo dục, đội ngũ nhà giáo và học sinh, duy trì cập nhật thường xuyên để bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”. Nguyên tắc cần thực hiện là “dữ liệu cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”, tránh yêu cầu giáo viên và nhà trường nhập lại những thông tin đã có trên hệ thống.

Bà Lê Thị Bích Thuận, Giám đốc Sở GD&ĐT Đà Nẵng.
Một nhiệm vụ quan trọng là triển khai học bạ số, bảo đảm dữ liệu được tạo lập từ nguồn gốc, kiểm tra, phê duyệt, ký số và đồng bộ lên hệ thống của Bộ GD&ĐT theo quy định. Dữ liệu văn bằng, chứng chỉ cũng cần được rà soát, số hóa và đồng bộ chính xác, đúng tiến độ. Ngành đồng thời triển khai các nền tảng số dùng chung theo hướng dẫn của Bộ, trong đó có nền tảng quản trị cơ sở giáo dục và nền tảng phân tích, khai thác dữ liệu IOC.
Cùng với việc sử dụng hồ sơ điện tử, chữ ký số và hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, ngành cần rà soát quy trình để loại bỏ thao tác trùng lặp, giảm việc không cần thiết cho nhà trường và giáo viên.
Công nghệ phải hỗ trợ dạy học và mang lại kết quả cho học sinh
- Cụ thể, chuyển đổi số sẽ tác động thế nào đến hoạt động dạy học, và ngành định hướng sử dụng AI ra sao để bảo đảm hiệu quả, an toàn? Kết quả hướng đến học sinh được xác định như thế nào?
- Công nghệ cần giúp giáo viên nhận diện nhu cầu học tập, thiết kế nhiệm vụ phù hợp, tăng tương tác và phản hồi kịp thời cho học sinh. Học liệu số phải gắn với mục tiêu bài học, bảo đảm chất lượng chuyên môn, phù hợp lứa tuổi và điều kiện tiếp cận của người học.
Trong năm học 2026 - 2027, ngành tiếp tục phát triển, chuẩn hóa và chia sẻ học liệu số, ngân hàng câu hỏi, thư viện điện tử; đẩy mạnh dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp phù hợp điều kiện thực tế. Việc kiểm tra, đánh giá trên máy tính được triển khai từng bước tại những nơi đủ điều kiện, bảo đảm công bằng và phản ánh đúng năng lực học sinh.



Học sinh các Trường THPT Trần Phú (ảnh trên), THPT Hoàng Hoa Thám (ảnh dưới - bìa trái) và THPT Nguyễn Văn Thoại (ảnh dưới - bìa phải) với các dự án giáo dục STEM.
Các hoạt động STEM/STEAM, Robotics và khai thác học liệu số cần tạo cơ hội để học sinh khám phá, hợp tác, giải quyết vấn đề. Cùng với kỹ năng sử dụng công nghệ, học sinh cần được hướng dẫn kiểm chứng thông tin, tôn trọng bản quyền và tự bảo vệ trên môi trường mạng.
Đặc biệt, chuyển đổi số hướng đến những kết quả cụ thể cho học sinh: phát triển năng lực số và tư duy sáng tạo; hỗ trợ học tập cá thể hóa thông qua dữ liệu và công cụ AI; mở rộng cơ hội tiếp cận học liệu chất lượng cao bất kể điều kiện địa lý; nâng cao kỹ năng hợp tác, giải quyết vấn đề thực tiễn qua các dự án STEM/STEAM và Robotics.
Học bạ số giúp hồ sơ học tập của học sinh chính xác, liên thông, thuận tiện cho việc chuyển trường, xét tuyển và theo dõi tiến bộ dài hạn. Việc ứng dụng AI và học liệu số nhằm giúp học sinh tiếp cận kiến thức linh hoạt hơn, tăng hứng thú học tập và hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu.
AI có thể hỗ trợ giáo viên chuẩn bị bài, thiết kế bài giảng, xây dựng câu hỏi, học liệu; giúp cán bộ quản lý phân tích dữ liệu và tổng hợp báo cáo. Đối với học sinh, AI được định hướng như công cụ hỗ trợ học tập có kiểm soát, giúp cá nhân hóa lộ trình, gợi ý tài liệu phù hợp và phát triển tư duy phản biện khi sử dụng. Tuy nhiên, AI có thể tạo thông tin sai, nội dung không phù hợp; việc sử dụng thiếu kiểm soát còn tiềm ẩn nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân và ảnh hưởng đến liêm chính học thuật.

Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng tập huấn ứng dụng AI trong dạy học cho giáo viên Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trà Leng (xã Trà Leng - TP Đà Nẵng).
Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần xây dựng quy tắc sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm. Giáo viên và cán bộ quản lý phải kiểm tra kết quả do AI tạo ra, chịu trách nhiệm về việc sử dụng trong hoạt động chuyên môn và không phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ này. AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thể thay thế trách nhiệm chuyên môn và vai trò giáo dục của người thầy. Học sinh được trang bị kỹ năng sử dụng AI hiệu quả, đạo đức và an toàn, để công nghệ thực sự phục vụ việc học chứ không thay thế quá trình tư duy của các em.
Chuyển đổi số cũng phải giảm việc chứ không tạo thêm gánh nặng cho giáo viên. Khi đưa một quy trình lên môi trường số, cần rà soát các bước thực hiện và đầu ra. Nếu giáo viên đã nhập dữ liệu trên phần mềm nhưng vẫn phải ghi lại cùng nội dung trên giấy mà không có yêu cầu cần thiết, quy trình đó cần được điều chỉnh. Mục tiêu không chỉ là thay hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử, mà phải loại bỏ thao tác trùng lặp và kết nối các hệ thống. Từ đó giáo viên có thêm thời gian và năng lượng dành cho việc hỗ trợ học sinh học tập hiệu quả hơn.
Bà lê thị bích thuận, giám đốc sở GD&ĐT Đà Nẵng
Bảo đảm điều kiện tiếp cận và an toàn số - không để học sinh bị bỏ lại phía sau
- Hạ tầng và năng lực số giữa các trường còn chênh lệch. Ngành sẽ làm gì để chuyển đổi số không làm gia tăng khoảng cách tiếp cận và đi vào thực chất?
- Hạ tầng, đường truyền internet và thiết bị tại một số địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo và điểm trường lẻ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Năng lực số của đội ngũ chưa đồng đều, trong khi nguồn lực vận hành, hỗ trợ kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin còn hạn chế.
Ngành cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng, bảo đảm đường truyền và thiết bị phục vụ quản lý, dạy học, nhất là tại những nơi còn khó khăn. Khi triển khai học liệu số, dạy học trực tuyến hay kiểm tra trên máy tính, các trường phải tính đến điều kiện tiếp cận của học sinh, tránh tạo thêm khoảng cách giữa các nhóm người học. Chuyển đổi số phải góp phần mở rộng cơ hội giáo dục, không chỉ đem lại thuận lợi cho những trường đã có đủ điều kiện.


Một số dự án của học sinh trưng bày trong Chương trình Ngày hội STEM và đổi mới sáng tạo của Trường THPT Phan Châu Trinh (Đà Nẵng).
Việc bồi dưỡng năng lực số cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh cần được thực hiện thường xuyên. Các cơ sở giáo dục phải tuân thủ quy định về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ động phòng ngừa nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng. Học sinh được trang bị kỹ năng số cơ bản và nâng cao, kỹ năng bảo vệ bản thân trên không gian mạng, đồng thời được tạo điều kiện trải nghiệm thực tế qua các hoạt động STEM, Robotics và học liệu số để phát triển toàn diện năng lực.

Kết quả triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số của ngành GD&ĐT Đà Nẵng.
Ngành cũng yêu cầu nâng cao trách nhiệm người đứng đầu theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. Nhiệm vụ chuyển đổi số phải gắn với sản phẩm và hiệu quả cụ thể, tránh hình thức. Mỗi trường cần lựa chọn giải pháp phù hợp nhu cầu và điều kiện thực tế, đồng thời đánh giá hiệu quả trong quá trình sử dụng, trong đó lấy sự tiến bộ và cơ hội học tập của học sinh làm một trong những thước đo quan trọng.
- Xin cảm ơn bà!
Đích đến của chuyển đổi số không phải là số lượng phần mềm hay mức độ hiện đại của công nghệ, mà là sự thuận tiện cho giáo viên, môi trường học tập an toàn, bình đẳng hơn cho học sinh và chất lượng giáo dục được nâng lên. Mỗi bước triển khai cần mang lại lợi ích cụ thể cho nhà trường, nhà giáo và giúp học sinh phát triển năng lực số, tư duy sáng tạo, kỹ năng tự học và sẵn sàng thích ứng với xã hội số trong tương lai.


