Ngành ngân hàng Việt Nam: Từ trung gian vốn đến hạ tầng phân bổ nguồn lực

Khi mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 được đặt ở mức từ 10% trở lên, vấn đề không còn nằm ở việc nền kinh tế cần bao nhiêu vốn, mà là dòng vốn đó sẽ được phân bổ như thế nào. Trong bối cảnh đó, các Nghị quyết lớn như Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân đều cho thấy một yêu cầu xuyên suốt: tổ chức lại cách thức phân bổ nguồn lực trong toàn nền kinh tế, bảo đảm các khu vực bổ trợ và lan tỏa lẫn nhau. Yêu cầu này đồng thời đặt ra sự thay đổi về vai trò của hệ thống ngân hàng. Nếu như trước đây ngân hàng chủ yếu được nhìn nhận như một kênh trung gian dẫn vốn, thì trong giai đoạn mới, vai trò đó không còn đủ. Ngân hàng cần được nhìn nhận như một hạ tầng phân bổ nguồn lực chiến lược, gắn trực tiếp với chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế.

Không thể nhìn theo lối cũ

Nếu chỉ dùng tư duy cũ, không khó để hiểu “phát triển kinh tế nhà nước” đơn thuần là mở rộng khu vực sở hữu nhà nước, gia tăng số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc bơm thêm nguồn lực tài khóa vào nền kinh tế. Nhưng Nghị quyết 79 không đi theo lối mòn ấy. Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết rộng hơn rất nhiều: kinh tế nhà nước không chỉ là DNNN, mà là toàn bộ hệ thống nguồn lực mà nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối bao gồm đất đai, tài nguyên, hạ tầng, ngân sách, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, DNNN, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập.

Nói cách khác, kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới là một kiến trúc quyền lực kinh tế, chứ không chỉ là một khu vực doanh nghiệp. Chính ở điểm này, ngành Ngân hàng và các ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN) trở thành mắt xích đặc biệt, bởi trong toàn bộ hệ thống nguồn lực của nhà nước, ngân hàng là nơi giúp chiến lược thực thi nhanh và lan tỏa bằng các dòng vốn thực dụng nhất.

Khác với tài khóa cần thời gian phân bổ, đầu tư công cần thời gian chuẩn bị, giải ngân, thi công hay DNNN muốn mở rộng cũng cần thời gian tổ chức lại, ngân hàng, nếu được thiết kế đúng có thể lập tức chuyển tải ưu tiên phát triển quốc gia thành tín dụng, bảo lãnh, dòng tiền thanh toán, dữ liệu đánh giá rủi ro và cơ chế truyền dẫn vốn tới các khu vực cần kích hoạt, cần ưu tiên. Vì vậy, trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng phải được nhìn như một cơ chế truyền dẫn nguồn lực trọng yếu, và là một phần của năng lực tổ chức tăng trưởng quốc gia.

Một quốc gia muốn tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn nhất định thường cần 3 điều cùng lúc: mục tiêu rõ, nguồn lực lớn và cơ chế truyền dẫn hiệu quả. Việt Nam hiện đã có mục tiêu rất rõ. Nguồn lực cũng không phải là không có: ngân sách, đầu tư công, FDI, khu vực tư nhân nội địa, tích lũy xã hội và hệ thống tín dụng quy mô lớn. Cái khó nhất và quyết định nhất nằm ở cơ chế truyền dẫn. Và ngân hàng chính là điều quan trọng nhất đó.

Muốn làm được vai trò ấy, ngành Ngân hàng phải vượt khỏi định nghĩa cũ về thành công. Nếu vẫn coi thành công là tăng trưởng tín dụng cao, lợi nhuận lớn và mở rộng thị phần, thì ngân hàng mới chỉ làm tốt chức năng thương mại. Còn nếu coi thành công là nâng hiệu quả phân bổ vốn của nền kinh tế, hạ chi phí vốn cho khu vực tạo năng suất, định hình dòng vốn vào các ngành chiến lược và giảm rủi ro hệ thống cho tương lai, thì khi ấy ngân hàng mới thực sự đóng vai trò động lực trong phát triển kinh tế.

Từ “người cho vay” đến “kiến trúc sư phân bổ nguồn lực chiến lược”

Trong giai đoạn tới, nhà nước không chỉ điều tiết vĩ mô mà còn hướng tới hình thành các cực tăng trưởng có tính dẫn dắt và lan tỏa. Tuy nhiên, quá trình này không thể dựa vào mệnh lệnh hành chính, mà đòi hỏi vốn dài hạn, cơ chế phân tầng rủi ro và sự phối hợp giữa đầu tư công, tín dụng, thị trường vốn và khu vực tư nhân. Muốn vậy, ngân hàng phải hình thành 3 vai trò mới.

Thứ nhất, trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, vốn có xu hướng chảy tới nơi lợi nhuận ngắn hạn cao nhất, chứ không tự động chảy tới nơi có giá trị chiến lược dài hạn nhất. Đó là lý do các lĩnh vực như bất động sản, đầu cơ tài sản, tiêu dùng ngắn hạn thường hấp dẫn hơn về mặt thương mại so với công nghệ lõi, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ hay chuyển đổi xanh.

Nhiệm vụ của nhà nước, vì thế không phải là ép ngân hàng cho vay bằng mệnh lệnh hành chính, mà là thiết kế khung khuyến khích, bảo lãnh, tái cấp vốn, chia sẻ rủi ro và dữ liệu để ngân hàng có động lực thương mại khi tài trợ cho các lĩnh vực chiến lược mang tính dài hạn.

Thứ hai, Nghị quyết 79 chỉ rõ DNNN phải có khả năng dẫn dắt, kích hoạt và huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư. Điều này cũng áp dụng với ngân hàng. Một đồng vốn ngân hàng trong tương lai không nên chỉ có nghĩa là một đồng nợ. Nó phải có nghĩa là một đồng vốn mồi để kéo theo vốn tư nhân, vốn thị trường, vốn quốc tế và các mô hình hợp tác công tư. Khi đó, ngân hàng không chỉ cấp tín dụng, mà tham gia kiến tạo cấu trúc tài chính cho tăng trưởng và bền vững.

Thứ ba, một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh bằng cách bơm tín dụng mạnh trong vài năm, nhưng nếu chất lượng phân bổ vốn thấp, hệ quả tất yếu là nợ xấu, đầu tư dở dang, tài sản kém hiệu quả và áp lực xử lý khủng hoảng về sau. Vì vậy, vai trò chiến lược nhất của ngân hàng không phải là bơm thêm bao nhiêu vốn, mà là giúp nền kinh tế tăng trưởng với hệ số vốn tốt hơn, nghĩa là tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đồng vốn đưa ra.

Bức tranh ngân hàng hiện tại mang 2 sắc thái rõ nét. Ở chiều tích cực, hệ thống ngân hàng tiếp tục là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Tín dụng năm 2025 tăng 17,87%, phản ánh năng lực cung ứng vốn mạnh mẽ và sức bật của cầu tín dụng. Tín dụng xanh ghi nhận mức tăng trưởng 9,37% trong năm 2024 cho thấy dòng vốn đã bước đầu dịch chuyển theo hướng bền vững. Thanh toán QR Code bùng nổ với mức tăng trên 141% về giá trị, trong khi tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng đã đạt khoảng 87%, cao hơn đáng kể so với cách đây 5 năm chỉ ở mức 50 - 60%.

Tuy nhiên, song hành với đó là những rủi ro đang dần tích tụ. Nợ xấu nội bảng của 27 ngân hàng niêm yết ở mức khoảng 2,1% vào cuối năm 2025, nhưng nếu tính cả nợ tiềm ẩn rủi ro, con số ước tính lên tới 5,46% theo Hiệp hội Ngân hàng. Đáng chú ý, nợ nhóm 4 tăng 35,5% trong 9 tháng đầu năm 2025 cho thấy nhiều khoản vay đang có xu hướng suy giảm chất lượng và tiềm ẩn nguy cơ mất vốn cao hơn. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn Ngành cũng giảm xuống còn khoảng 84%, thấp hơn đáng kể so với mức đỉnh 149% của năm 2022.

Bối cảnh hiện nay tồn tại một nghịch lý chiến lược: muốn đạt tăng trưởng cao thì cần ngân hàng hỗ trợ mạnh hơn. Nhưng nếu ngân hàng hỗ trợ theo cách nới lỏng và thiếu kỷ luật, chính hệ thống ngân hàng lại trở thành nguồn bất ổn trung hạn. Đây là nghịch lý mà nhiều nền kinh tế mới nổi đã từng vấp phải.

Điều này không phải chỉ là lý thuyết. Lịch sử khu vực đã từng chứng kiến ít nhất ba lần tương tự. Tại Thái Lan giai đoạn từ 1987–1997, nền kinh tế tăng trưởng bình quân trên 9%/năm, hệ thống ngân hàng mở rộng mạnh mẽ, vốn đổ phần lớn vào bất động sản và đầu cơ tài sản. Khi bong bóng vỡ, tỷ lệ nợ xấu lĩnh vực bất động sản đạt 52,3% vào năm 1999. Thu nhập bình quân đầu người giảm 21,2% chỉ trong năm 1997. Và phải đến năm 2003, Thái Lan mới trả xong nợ IMF. Nguyên nhân cốt lõi là bởi quản trị cho vay lỏng lẻo, phân loại nợ sơ sài, tín dụng tập trung vào bất động sản.

Còn tại Indonesia trong giai đoạn từ 1987–1998, tăng trưởng 8–10% mỗi năm trước khủng hoảng. Ngân hàng Trung ương không chú trọng đến khả năng trả nợ của người vay. Vốn vay ngắn hạn nước ngoài được đưa vào đầu tư dài hạn trong nước, tạo lệch pha kỳ hạn trầm trọng. Khi khủng hoảng 1997–1998 nổ ra, thu nhập GNP đầu người giảm 42,3% chỉ riêng năm 1997, mức giảm sâu nhất trong khu vực.

Một nền kinh tế lớn như Trung Quốc trong giai đoạn từ 2009–2017 đã phải đưa ra gói kích thích 4.000 tỷ nhân dân tệ năm 2009, tín dụng tăng mạnh, có lúc hệ số nợ/GDP tăng gần 150 điểm phần trăm chỉ trong 7 năm (2007–2014). Hệ quả tín dụng bóng bùng phát để lách quy định, số dư nợ xấu khu vực DNNN leo thang, khủng hoảng bất động sản đã và đang kéo dài cho đến tận hôm nay. Đây là điển hình của việc đưa vốn tín dụng vào đúng DNNN nhưng không kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn.

Điểm chung của các quốc gia trên là đều có nền kinh tế tăng trưởng mạnh trước khủng hoảng. Vấn đề không phải là tín dụng tăng nhanh, mà là chảy vào sai lĩnh vực, với tiêu chuẩn xét duyệt yếu và giám sát lỏng lẻo. Việt Nam có lợi thế đến sau và có thể tránh những sai lầm này.

Vì vậy, bài toán đúng không phải là “nới” hay “siết” tín dụng một cách cơ học, mà là phân tầng tín dụng: siết với khu vực đầu cơ, chu kỳ ngắn, khả năng lan tỏa thấp; mở mạnh với khu vực tạo năng suất, tạo xuất khẩu, tạo hạ tầng, tạo công nghệ và tạo chuyển đổi xanh. Tương lai của ngân hàng Việt Nam không nằm ở câu hỏi “có bơm vốn không”, mà nằm ở câu hỏi “bơm vốn cho ai, theo cơ chế nào, với công cụ chia sẻ rủi ro nào và bằng chuẩn giám sát nào?”.

NHTM nhà nước phải đi đầu, nhưng không đi một mình

Nghị quyết 79 dành riêng một mục cho các tổ chức tín dụng nhà nước, yêu cầu áp dụng chuẩn quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, minh bạch thông tin, chuyển đổi số toàn diện, quản lý vốn theo thời gian thực và phổ cập dịch vụ tài chính số đến mọi vùng miền. Đây không phải là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần. Đó là định nghĩa lại sứ mệnh của khối ngân hàng có vốn nhà nước. Theo đó, trong giai đoạn mới, các NHTM nhà nước phải dẫn dắt ở bốn cột trụ cốt lõi.

Thứ nhất, chuẩn mực quản trị hiện đại. Khối NHTM nhà nước phải là nhóm đi đầu trong quản trị rủi ro, dữ liệu, tuân thủ, IFRS, kiểm thử, vốn và thanh khoản. Nếu nhóm này không dẫn dắt chuẩn mực, khó tạo kỷ luật chung cho toàn hệ thống.

Thứ hai, nền tảng dữ liệu phát triển. Tương lai của phân bổ vốn không thể dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm như truyền thống. Nó phải dựa vào dữ liệu dòng tiền, thuế, chuỗi cung ứng, hóa đơn điện tử, logistics và dữ liệu thanh toán. Với quy mô khách hàng lớn và độ phủ cao, khối NHTM nhà nước có lợi thế để xây dựng năng lực chấm điểm tín dụng kiểu mới cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực nông nghiệp.

Thứ ba, tài chính bao trùm. Một nền kinh tế mà vùng sâu, vùng xa, khu vực nông nghiệp, hộ sản xuất nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn khó tiếp cận vốn chính thức thì năng lực tổ chức phát triển của nhà nước còn chưa trọn vẹn.

Thứ tư, vốn mồi chiến lược. Khối NHTM nhà nước cần đi đầu trong tài trợ hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuỗi giá trị xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, nhà ở xã hội, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ số. Song không nên ôm toàn bộ rủi ro vào bảng cân đối. Cách sử dụng đúng là dùng vị thế của mình để thu hút đồng tài trợ, bảo lãnh, chứng khoán hóa trong tương lai, quỹ bảo lãnh tín dụng…

Tuy vậy, cần xác định rõ, NHTM nhà nước không thể làm tất cả. Chiến lược phát triển quốc gia hiện nay là đồng kiến tạo giữa nhà nước và thị trường, chứ không phải nhà nước làm thay thị trường. Vai trò đúng của NHTM nhà nước là dẫn dắt tiêu chuẩn, dẫn dắt hạ tầng, dẫn dắt cơ chế vốn mồi; còn khu vực NHTMCP, ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, fintech và thị trường vốn sẽ mở rộng biên cạnh tranh, sáng tạo sản phẩm và chia sẻ nguồn lực.

Từ “hệ thống tín dụng lớn” sang “hệ thống tài chính phát triển”

Đây là điểm mang tính chiến lược nhất. Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng thêm vài năm nhờ mở rộng tín dụng, nhưng sẽ không thể đi đường dài nếu chỉ dựa vào một hệ thống ngân hàng lớn. Hiện nay, ngân hàng chiếm khoảng 90–92% tổng tài sản toàn hệ thống định chế tài chính; trong khi bảo hiểm chiếm khoảng 4–5%, còn chứng khoán và quỹ đầu tư mỗi nhóm chưa đến 2%. Sự mất cân xứng này buộc ngân hàng phải gánh cả vốn ngắn hạn lẫn tài trợ dài hạn, tạo ra lệch pha kỳ hạn nguy hiểm. Điều chúng ta cần là một hệ thống tài chính phát triển với, trong đó ngân hàng là trung tâm nhưng không gánh hết mọi vai trò, dựa trên các trục chính sau:

Trục thứ nhất, nâng chất lượng phân bổ tín dụng. Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao mà không gây bất ổn, ngân hàng phải chuyển từ mô hình cho vay dựa trên quan hệ và tài sản sang mô hình dựa trên dữ liệu, dòng tiền và hiệu quả dự án. Ngân hàng tương lai phải giỏi “đọc phương án kinh doanh hiệu quả”, chứ không chỉ giỏi “giữ tài sản bảo đảm”.

Trục thứ hai, kết nối ngân hàng với đầu tư công và chiến lược công nghiệp. Ngân hàng phải hiểu bản đồ phát triển quốc gia: vành đai logistics nào sẽ hình thành, cụm công nghiệp nào sẽ mở rộng, hành lang kinh tế nào được đầu tư. Khi ngân hàng hiểu chiến lược công nghiệp và đầu tư công, ngân hàng mới tài trợ đúng chuỗi giá trị và đón được cơ hội tăng trưởng thật.

Trục thứ ba, xử lý dứt điểm bài toán nợ xấu và tài sản tồn đọng. Một hệ thống tài chính muốn đi xa phải nhẹ bảng cân đối. Nghị quyết 79 nhấn mạnh vai trò của VAMC và DATC trong xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường. Nếu không đẩy nhanh trục này, mọi mục tiêu tín dụng cho giai đoạn tới sẽ luôn bị kéo lùi bởi di sản của quá khứ.

Trục thứ tư, chuyển đổi số để giảm chi phí vốn và mở rộng bao trùm tài chính. Chuyển đổi số trong ngân hàng không còn là câu chuyện tiện ích ứng dụng. Nó đã trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi chi phí phục vụ một khách hàng giảm xuống, khi định danh điện tử chính xác hơn, khi dòng tiền được số hóa, khi tín dụng vi mô và SME có thể được chấm điểm tức thì, ngân hàng mới thực sự trở thành hạ tầng của nền kinh tế số.

Trục thứ năm, chuẩn hóa quốc tế và phát triển thị trường vốn đồng bộ. Tiệm cận Basel III, IFRS 9, nâng chuẩn xếp hạng là cần thiết. Nhưng mục tiêu cuối cùng không phải để đẹp báo cáo. Mục tiêu là để hệ thống ngân hàng có sức chống chịu tốt hơn và huy động được vốn rẻ hơn. Nhưng cần nhấn mạnh một nền kinh tế không thể mãi phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mà cần sự lớn mạnh của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu để san sẻ gánh nặng lệch pha kỳ hạn.

Dẫn dắt bằng chất lượng phân bổ vốn

Đây là kết luận quan trọng nhất. Trong tư duy cũ, phát triển kinh tế nhà nước thường được hiểu là mở rộng “bàn tay hữu hình” của nhà nước trong hoạt động kinh tế. Nhưng trong tư duy mới thể hiện qua Nghị quyết 79 và đặt cạnh Nghị quyết 68, điều cần thiết hơn là nâng cấp năng lực điều phối phát triển của nhà nước. Nhà nước không nhất thiết làm nhiều hơn, nhưng phải dẫn dắt thông minh hơn. Và ngành Ngân hàng là công cụ trọng yếu để thực hiện điều đó.

Một hệ thống ngân hàng tốt cho giai đoạn tới không phải là hệ thống cho vay nhiều nhất. Đó phải là hệ thống phân bổ vốn vào đúng khu vực tạo năng suất; hỗ trợ hình thành các cực tăng trưởng chiến lược; kéo được vốn tư nhân cùng tham gia; xử lý rủi ro sớm thay vì dồn rủi ro về sau; số hóa sâu để giảm chi phí vốn toàn nền kinh tế và duy trì được an toàn hệ thống ngay cả khi tăng trưởng cao.

Nếu làm được như vậy, ngân hàng không chỉ là “ngành dịch vụ tài chính” mà sẽ là hạ tầng thể chế của phát triển - nơi chiến lược quốc gia được chuyển hóa thành dòng vốn, thành dữ liệu và động lực của toàn bộ nền kinh tế.

Tóm lại, tương lai của ngành Ngân hàng không nằm ở tín dụng mệnh lệnh hay thả nổi theo lợi nhuận ngắn hạn mà ở một mô hình cân bằng ở cấp độ cao hơn: nhà nước đặt mục tiêu và thiết kế luật chơi; ngân hàng tổ chức phân bổ vốn theo chuẩn hiện đại; khu vực tư nhân được kích hoạt để cùng đầu tư; còn toàn bộ hệ thống tài chính vận hành theo logic hiệu quả, minh bạch và sức chống chịu dài hạn.

Đó là cách để kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo mà không làm suy yếu thị trường. Đó cũng là hướng đi để NHTM Việt Nam bước từ vai trò “trung gian vốn” sang vai trò “kiến trúc sư tăng trưởng quốc gia”. Và nếu Việt Nam muốn đi tới mục tiêu 2030 và xa hơn là khát vọng 2045, thì đây không chỉ là một lựa chọn tốt. Đây gần như là một lựa chọn bắt buộc.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí minh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nganh-ngan-hang-viet-nam-tu-trung-gian-von-den-ha-tang-phan-bo-nguon-luc-180557.html