Ngành quản lý quỹ tìm động lực mới trên hành trình tới mục tiêu 5% GDP

Hướng tới mục tiêu giá trị tài sản ròng đạt 5% GDP vào năm 2030, ngành quản lý quỹ cần thêm động lực từ mở rộng sản phẩm, kênh phân phối và khả năng thu hút dòng vốn dài hạn.

Khoảng cách lớn tới mục tiêu 5% GDP

Ngày 27/7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1413/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Đề án định hướng phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, tăng vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các nhà đầu tư tổ chức.

Đối với ngành quản lý quỹ, mục tiêu đáng chú ý là đưa giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ đầu tư chứng khoán lên 5% GDP vào năm 2030. Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đến cuối tháng 9/2025, Việt Nam có 43 công ty quản lý quỹ với tổng tài sản quản lý khoảng 806 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi mức 435 nghìn tỷ đồng cuối năm 2020. Riêng 126 quỹ đầu tư chứng khoán có tổng NAV gần 106 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 88%.

Chính sách gần đây đã mở thêm không gian cho quỹ đầu tư công cụ thị trường tiền tệ, quỹ trái phiếu hạ tầng và mở rộng phạm vi tài sản mà quỹ có thể đầu tư. Ảnh: Đức Thanh

Chính sách gần đây đã mở thêm không gian cho quỹ đầu tư công cụ thị trường tiền tệ, quỹ trái phiếu hạ tầng và mở rộng phạm vi tài sản mà quỹ có thể đầu tư. Ảnh: Đức Thanh

So với GDP năm 2025 khoảng 12,85 triệu tỷ đồng, NAV của các quỹ đầu tư chứng khoán mới tương đương khoảng 0,8% GDP. Ngay cả khi quy mô GDP không tăng, NAV ngành quỹ cũng cần tăng hơn 6 lần để đạt tỷ lệ 5%. Khi nền kinh tế tiếp tục mở rộng, quy mô tuyệt đối cần đạt sẽ còn lớn hơn.

Khoảng cách này cho thấy ngành quỹ khó chỉ dựa vào tăng trưởng tự nhiên của các sản phẩm hiện hữu. Dư địa phát triển phần nào thể hiện qua cơ cấu nhà đầu tư. Đến cuối tháng 7/2026, Việt Nam có khoảng 13,66 triệu tài khoản chứng khoán, trong đó hơn 13,58 triệu tài khoản thuộc về nhà đầu tư cá nhân trong nước, trong khi số tài khoản của tổ chức trong nước chỉ hơn 20 nghìn. Dù số lượng tài khoản không phản ánh trực tiếp tỷ trọng tài sản nắm giữ, cơ cấu này cho thấy sự tham gia trực tiếp rất lớn của nhà đầu tư cá nhân.

Do đó, một trong những bài toán đặt ra là thu hút một phần dòng tiền đang được đầu tư trực tiếp hoặc nằm trong các hình thức tiết kiệm truyền thống chuyển sang đầu tư thông qua các định chế chuyên nghiệp. Để thu hẹp khoảng cách từ 0,8% lên 5% GDP, việc có thêm sản phẩm mới chỉ là một phần của bài toán.

Mục tiêu giá trị tài sản ròng các quỹ đạt 5% GDP không chỉ đặt ra bài toán mở rộng ngành quản lý quỹ, mà còn gắn với việc hình thành nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế. Khi dòng tiền nhàn rỗi được phân bổ qua các định chế chuyên nghiệp, thị trường có thể có thêm nguồn vốn cho trái phiếu, cổ phiếu, hạ tầng và các tài sản dài hạn. Trong đó, quỹ thu nhập cố định có thể đóng vai trò cầu nối giữa tiền gửi và đầu tư, góp phần giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn lên hệ thống ngân hàng.

Chính sách gần đây đã mở thêm không gian cho quỹ đầu tư công cụ thị trường tiền tệ, quỹ trái phiếu hạ tầng và mở rộng phạm vi tài sản mà quỹ có thể đầu tư. Tuy nhiên, thêm sản phẩm chưa đồng nghĩa tài sản quản lý sẽ tăng tương ứng. Quan trọng hơn là sản phẩm cần phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư, từ quản lý tiền nhàn rỗi ngắn hạn đến tích lũy tài sản dài hạn, với những yêu cầu khác nhau về thanh khoản, lợi suất và mức độ chấp nhận rủi ro.

Cùng với sản phẩm, khả năng phân phối là yếu tố quan trọng để đưa các quỹ đến gần hơn với nhà đầu tư. Thay vì mỗi công ty quản lý quỹ tự xây dựng mạng lưới bán lẻ riêng, việc phân phối thông qua ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm, nền tảng số và các hệ sinh thái khách hàng có thể mở rộng phạm vi tiếp cận. Công nghệ cũng trở thành một phần của hạ tầng này, từ định danh, mở tài khoản trực tuyến, kết nối với đại lý phân phối đến báo cáo danh mục và quản lý thanh khoản.

Mở dư địa từ quỹ thu nhập cố định

Khi sản phẩm và kênh phân phối được mở rộng, vấn đề tiếp theo là những nhóm sản phẩm nào có thể thu hút thêm dòng vốn vào ngành quỹ. Theo ý kiến từ Công ty Quản lý quỹ PVI (PVI AM) và các thành viên thị trường, nhóm sản phẩm thu nhập cố định có thể đóng vai trò đáng kể. Nhóm sản phẩm này có thể là một bước chuyển giữa tiền gửi và đầu tư trên thị trường vốn, nhất là với những nhà đầu tư chưa quen với biến động của cổ phiếu.

Trong hướng đi này, sự hình thành của quỹ đầu tư công cụ thị trường tiền tệ (MMF) là một bước phát triển đáng chú ý. Theo Thông tư 136/2025/TT-BTC, quỹ MMF phải đầu tư tối thiểu 80% NAV vào các tài sản có tính chất ngắn hạn, đồng thời duy trì tối thiểu 10% NAV vào tiền trên tài khoản thanh toán, tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi.

Nếu được thiết kế và phân phối phù hợp, MMF và các quỹ thu nhập cố định ngắn hạn có thể bổ sung lựa chọn giữa tiền gửi và các sản phẩm đầu tư dài hạn. Trên nền tảng đó, hệ thống sản phẩm có thể mở rộng từ quỹ thanh khoản, MMF đến quỹ trái phiếu ngắn và dài hạn, tín dụng tư nhân, trái phiếu hạ tầng, trái phiếu xanh hoặc các giải pháp dành cho nguồn vốn bảo hiểm và hưu trí.

Dù vậy, mở rộng quy mô quỹ thu nhập cố định cũng kéo theo yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro. Đề án định hướng phát triển xếp hạng tín nhiệm, định giá trái phiếu và tăng tính minh bạch của thị trường. Theo đó, công ty quản lý quỹ cần kết hợp xếp hạng tín nhiệm độc lập với phân tích tín dụng nội bộ, đồng thời nâng cao năng lực lựa chọn kỳ hạn và phân bổ rủi ro.

Với quỹ mở, quản trị thanh khoản đặc biệt quan trọng do phải bảo đảm khả năng đáp ứng nhu cầu mua lại chứng chỉ quỹ. Khi quy mô tăng, yêu cầu về kiểm tra sức chịu đựng của dòng tiền, giới hạn tập trung và nguồn thanh khoản dự phòng cũng cao hơn. Song song với đó, sự phát triển của thị trường thứ cấp và nguồn giá tham chiếu đáng tin cậy là điều kiện để các công ty quản lý quỹ định giá tài sản, xác định NAV và giao dịch danh mục hiệu quả hơn.

Khi những điều kiện về quản trị và hạ tầng được củng cố, dư địa tăng trưởng của các quỹ thu nhập cố định không chỉ đến từ nhà đầu tư cá nhân mà còn ở khối tổ chức. Quỹ thanh khoản và quỹ trái phiếu có thể phục vụ nhu cầu quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các chương trình tiết kiệm của người lao động, qua đó tạo nguồn AUM ổn định hơn.

Ở chiều ngược lại, khả năng mở rộng các quỹ còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ đa dạng của nguồn tài sản đầu tư. Giai đoạn 2020 - 2025, tổng vốn huy động qua thị trường trái phiếu đạt khoảng 4,47 triệu tỷ đồng; đến tháng 11/2025, quy mô thị trường trái phiếu chính phủ đạt khoảng 2,56 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ vẫn tập trung chủ yếu ở tổ chức tín dụng và bất động sản, lần lượt chiếm 70,4% và 21,5% lượng phát hành từ đầu năm tính đến ngày 26/9/2025.

Khoảng cách từ mức NAV tương đương 0,8% GDP hiện nay đến mục tiêu 5% GDP vào năm 2030 vì vậy không chỉ là bài toán tăng số lượng quỹ. Quy mô ngành còn phụ thuộc vào khả năng phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu nhà đầu tư, mở rộng kênh phân phối, nâng cao năng lực quản trị và gia tăng nguồn tài sản có chất lượng, thanh khoản để tạo nền tảng cho dòng vốn đầu tư chuyên nghiệp, dài hạn.

Nguyễn Thị Lan

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/nganh-quan-ly-quy-tim-dong-luc-moi-tren-hanh-trinh-toi-muc-tieu-5-gdp-202424-202424.html