Triển khai chỉ đạo của Thủ tướng với ngành ngân hàng Khơi thông dòng vốn, tiếp sức doanh nghiệp
Thông báo số 428/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng đặt ra yêu cầu củng cố ổn định vĩ mô, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn. Để chỉ đạo này đi vào thực tế, cần tháo gỡ các "điểm nghẽn" tín dụng, giảm chi phí vốn và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Ba "điểm nghẽn" trong tiếp cận tín dụng
Điều cộng đồng doanh nghiệp tâm đắc nhất trong Thông báo số 428/TB-VPCP là yêu cầu ngành ngân hàng phải vừa củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, vừa chia sẻ trách nhiệm với người dân, doanh nghiệp thông qua các giải pháp cụ thể về lãi suất và tín dụng, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực phục vụ tăng trưởng. Đây không phải lời kêu gọi chung chung, mà đi kèm cơ chế chỉ đạo rõ đến từng cấp, từng lĩnh vực - nơi nào không chấp hành nghiêm túc chỉ đạo về lãi suất sẽ bị xem xét xử lý theo thẩm quyền.

Công nhân làm việc tại TNHH may mặc Bowker Việt Nam. Ảnh: Chí Tưởng
Một điểm đáng chú ý nữa trong Kết luận của Thủ tướng là quan điểm điều hành tín dụng không còn coi tăng trưởng tín dụng là “trần cứng” trong mọi thời điểm, mà phải linh hoạt theo thực tế, sao cho vốn đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích với chi phí hợp lý; trong đó có các lĩnh vực sản xuất, nơi doanh nghiệp trong nước đang chịu sức ép lớn về chi phí vốn và sức cạnh tranh.
Chẳng hạn, với ngành sơn, doanh nghiệp sản xuất trong nước phải cạnh tranh trực tiếp với các thương hiệu ngoại có lợi thế về chi phí vốn nhờ nguồn lực từ công ty mẹ hoặc khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Vì vậy, yêu cầu giảm chi phí vốn và nâng khả năng tiếp cận tín dụng là vấn đề cộng đồng doanh nghiệp sản xuất trong nước đặc biệt quan tâm.
Thông báo số 428/TB-VPCP cũng chỉ ra rằng một bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp còn khó tiếp cận vốn do hạn chế về năng lực tài chính, tài sản bảo đảm, dữ liệu tín nhiệm và phương án kinh doanh. Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp sản xuất, có thể thấy nhận định này khá sát với những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải, và có thể cụ thể hóa thành ba điểm nghẽn.
Thứ nhất là cách định giá tài sản bảo đảm. Đơn cử, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, kho chứa hóa chất chuyên dụng của ngành sơn thường bị áp tỷ lệ cho vay khá thận trọng so với giá trị thực và khả năng sinh lời, khiến hạn mức tín dụng được cấp không kịp nhu cầu vốn lưu động thực tế, đặc biệt vào mùa cao điểm xây dựng khi đơn hàng tăng mạnh.
Thứ hai là cách chấm điểm tín dụng vẫn thiên nhiều về tài sản thế chấp hơn là dòng tiền thực tế, hợp đồng đầu ra và uy tín thương hiệu đã được thị trường kiểm chứng qua nhiều năm hoạt động. Đây chính là điểm nghẽn mà Thủ tướng đã lưu ý khi nhắc tới hạn chế về dữ liệu tín nhiệm và phương án kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba là thủ tục giải ngân, gia hạn hạn mức, xử lý hồ sơ liên quan đến bảo lãnh, L/C nhập khẩu nguyên liệu (bột màu, nhựa, dung môi) đôi khi còn qua nhiều tầng nấc, trong khi giá nguyên liệu đầu vào - vốn phụ thuộc tỷ giá và giá dầu thế giới, có thể biến động chỉ trong vài ngày. Nếu quy trình ngân hàng không đủ nhanh, doanh nghiệp sẽ mất cơ hội chốt giá nguyên liệu ở mức tốt, ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và sức cạnh tranh.
Đây là những điểm nghẽn cần được ngành ngân hàng tháo gỡ thực chất, đi vào từng khâu tác nghiệp, để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp như Thủ tướng đã chỉ đạo.
Bốn giải pháp để tín dụng đến đúng đối tượng
Từ những điểm nghẽn trên, chúng tôi đề xuất bốn nhóm giải pháp để các chỉ đạo của Thủ tướng được triển khai hiệu quả.
Thứ nhất, ngân hàng nên áp dụng phổ biến hơn các mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền, lịch sử giao dịch và hợp đồng đầu ra, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm truyền thống, đặc biệt với các doanh nghiệp sản xuất đã hoạt động ổn định, minh bạch báo cáo tài chính. Đây cũng là cách thực hiện đúng tinh thần đưa vốn đến đúng đối tượng, đúng mục đích với chi phí hợp lý mà Thông báo số 428/TB-VPCP đã nêu.
Thứ hai, các ngành sản xuất trong nước có tỷ lệ nội địa hóa cao, góp phần thay thế hàng nhập khẩu như sơn, vật liệu xây dựng, cơ khí, nên được xem xét bổ sung vào nhóm lĩnh vực ưu tiên tiếp cận các chương trình tín dụng có lãi suất hỗ trợ, tương tự tinh thần dành cho sản xuất, công nghiệp hỗ trợ mà Kết luận của Thủ tướng đã đề cập.
Thứ ba, tiếp tục đơn giản hóa, số hóa quy trình thẩm định, giải ngân, nhất là với các khoản vay vốn lưu động theo hạn mức đã được cấp, để doanh nghiệp chủ động chớp thời điểm nhập nguyên liệu.
Thứ tư, các ngân hàng thương mại cần duy trì đối thoại thường xuyên, thực chất với hiệp hội doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp tại địa phương, để chính sách từ Trung ương đến đúng đối tượng thụ hưởng.
Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, chúng tôi nhận thức rõ rằng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn hệ thống ngân hàng là những mục tiêu không thể đánh đổi. Nhưng chúng tôi cũng tin ổn định vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển là hai mặt của cùng một bài toán tăng trưởng bền vững mà Thủ tướng đã đặt ra.
Cộng đồng doanh nghiệp sản xuất thuần Việt luôn sẵn sàng đồng hành, minh bạch hóa hoạt động, nâng cao năng lực quản trị để xứng đáng là đối tác tin cậy của ngân hàng. Điều chúng tôi mong chờ là sự đồng hành ấy được đáp lại bằng hành động cụ thể, kịp thời từ hệ thống ngân hàng, đúng tinh thần “chủ động - kịp thời - linh hoạt - sáng tạo - an toàn - hiệu quả - trách nhiệm - quyết liệt” mà người đứng đầu Chính phủ đã đặt ra cho toàn ngành.
