Ngành quốc phòng Israel chịu ảnh hưởng khi Mỹ chấm dứt viện trợ
Tuyên bố cắt viện trợ quân sự cho Israel của ông Trump có thể gây sức ép lên ngân sách Israel, đồng thời ảnh hưởng đến các tập đoàn quốc phòng Mỹ như Boeing, Raytheon.

Máy bay Mỹ vận chuyển viện trợ quân sự tới Israel. Ảnh: Bộ Quốc phòng Israel
Theo báo Globes, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc chấm dứt viện trợ quân sự cho Israel là động thái đặc biệt gây chấn động. Không chỉ bởi quyết định này được công bố bất ngờ, không kèm theo lộ trình cắt giảm dần, mà còn vì nó đi ngược mọi dự đoán khi chỉ còn một năm nữa là thỏa thuận viện trợ kéo dài 10 năm giữa hai nước hết hiệu lực.
Đáng chú ý, mới tháng 7 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu về một sửa đổi do nghị sĩ đảng Cộng hòa Thomas Massie đề xuất, nhằm loại bỏ khoản viện trợ quân sự dành cho Israel trong năm 2028. Có tới 314 nghị sĩ Hạ viện phản đối việc chấm dứt viện trợ, trong đó gần như toàn bộ nghị sĩ Cộng hòa, ngoại trừ một người, bỏ phiếu chống đề xuất này. Trong khi đó, 104 nghị sĩ Dân chủ ủng hộ biện pháp trên.
Tuyên bố của ông Trump, trên thực tế vượt quá thẩm quyền của Tổng thống bởi quyền quyết định ngân sách thuộc độc quyền của Quốc hội Mỹ, được xem là một đòn giáng mạnh. Động thái này có thể liên quan đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ và nhận định của ông Trump rằng Israel đang ngày càng mất đi sự ủng hộ của công chúng Mỹ. Có thể Tổng thống Mỹ coi việc hủy bỏ viện trợ là nỗ lực cuối cùng nhằm ngăn chặn làn sóng thắng lợi của đảng Dân chủ đang hình thành, được dự báo có thể tạo nên một chiến thắng lớn cho phe này.
Viện trợ quy mô lớn của Mỹ dành cho Israel bắt đầu sau cuộc chiến Yom Kippur năm 1973 và từ đó đến nay luôn duy trì được sự ủng hộ vượt qua ranh giới giữa hai đảng cũng như các chính quyền tổng thống khác nhau.
Tháng 9/2016, chính quyền Tổng thống Barack Obama và Chính phủ Israel ký thỏa thuận viện trợ quốc phòng cho giai đoạn 2019-2028, với tổng trị giá 38 tỷ USD.
Thỏa thuận này tiếp nối truyền thống viện trợ lâu dài của Mỹ. Chính quyền Tổng thống Bill Clinton cam kết viện trợ 26,7 tỷ USD trong giai đoạn 1999-2008, trong khi chính quyền Tổng thống George W. Bush nâng mức hỗ trợ lên 30 tỷ USD cho giai đoạn 2009-2018. Ngoài ra, sau cuộc chiến bùng phát ngày 7/10/2023, chính quyền Tổng thống Joe Biden còn cung cấp thêm khoản viện trợ đặc biệt trị giá 8,7 tỷ USD.
Theo số liệu của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS), tính từ khi thành lập đến năm 2025, Israel đã nhận tổng cộng khoảng 300 tỷ USD viện trợ từ Mỹ (tính theo giá trị đồng USD hiện nay sau điều chỉnh lạm phát). Khoảng 90% tổng số viện trợ này được cung cấp kể từ năm 1973.
Theo thỏa thuận kéo dài 10 năm, viện trợ quốc phòng thường niên của Mỹ dành cho Israel ở mức 3,8 tỷ USD. Trong đó, 3,3 tỷ USD được dành cho hoạt động mua sắm thường xuyên vũ khí, đạn dược và máy bay; 500 triệu USD còn lại thuộc chương trình ngân sách đặc biệt trị giá 5 tỷ USD trong 10 năm do chính quyền Obama thiết lập, nhằm hỗ trợ các hệ thống phòng thủ tên lửa, gồm Vòm Sắt (Iron Dome), David's Sling và Arrow.
Năm 2024, theo đề nghị của Tổng thống Biden, Quốc hội Mỹ đã phê duyệt thêm 1,2 tỷ USD, ngoài khoản viện trợ hiện có, để phát triển hệ thống phòng không laser Iron Beam của Israel. Xét trong nhiều năm, viện trợ của Mỹ chiếm khoảng 25-35% tổng ngân sách quốc phòng Israel. Trong 10 năm trước khi cuộc chiến bùng phát tháng 10/2023, viện trợ thường xuyên của Mỹ tài trợ khoảng 15-20% chi tiêu quốc phòng của Israel. Trong khi đó, tỷ lệ này tăng lên mức trung bình 23-24% trong giai đoạn 2024-2025.
Khoản viện trợ này tương đương khoảng 12 tỷ shekel (3,8 tỷ USD) mỗi năm, bằng toàn bộ ngân sách của Bộ An ninh Quốc gia Israel, cơ quan phụ trách Cảnh sát, Cơ quan Quản lý Nhà tù và Cơ quan Cứu hỏa và Cứu hộ.
Nếu phải tự trang trải khoản chi phí này, Israel sẽ cần tăng đồng loạt khoảng 2-2,5% thuế thu nhập cá nhân ở tất cả các bậc thuế, hoặc tăng 1% thuế giá trị gia tăng (VAT). Tuy nhiên, Israel không phải bên duy nhất chịu thiệt hại nếu viện trợ bị cắt giảm. Các tập đoàn quốc phòng Mỹ như Boeing, Raytheon và Lockheed Martin cũng có thể chịu tác động tiêu cực, bởi phần lớn nguồn tiền viện trợ này cuối cùng quay trở lại Mỹ thông qua các đơn đặt hàng mua sắm vũ khí và trang thiết bị quốc phòng.
Những tập đoàn này, cùng với các công đoàn đại diện người lao động, duy trì hoạt động vận động hành lang quy mô lớn tại Washington. Vì vậy, tuyên bố của ông Trump rằng việc cắt giảm viện trợ đã được phối hợp với Israel và có sự đồng thuận của nước này dường như nhằm ngăn chặn trước những phản đối tại Quốc hội, trong đó có ý kiến của nhiều nghị sĩ, khi quá trình phê duyệt ngân sách được tiến hành.
Bất kể số phận cuối cùng của chương trình viện trợ ra sao và mức cắt giảm thực tế như thế nào, động thái đột ngột và mạnh mẽ của Tổng thống Trump không chỉ tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế Israel, vốn đang phải đối mặt với ngân sách quốc phòng ngày càng phình to kể từ tháng 10/2023, mà còn phần nào cho thấy bầu không khí chính trị tại Washington mà chính phủ Israel nhiệm kỳ mới sẽ phải đối mặt sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ.



