Ngành xi măng và năng lực cạnh tranh từ giảm phát thải

Ngành xi măng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị, nhưng đồng thời đây là ngành sản xuất sử dụng năng lượng lớn, cũng như có phát thải cao. Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh, việc khử cacbon, giảm phát thải trong ngành xi măng của Việt Nam có ý nghĩa lớn.

Xi măng là ngành phát thải chỉ đứng thứ 2 sau ngành sản xuất năng lượng. Ảnh: Nam Anh.

Xi măng là ngành phát thải chỉ đứng thứ 2 sau ngành sản xuất năng lượng. Ảnh: Nam Anh.

Chiếm khoảng 16% tổng lượng phát thải khí nhà kính

Về ngành xi măng, theo số liệu của giới chuyên gia kinh tế, hiện trên toàn cầu, lượng phát thải của ngành này là hơn 2,5 tỷ tấn CO2. Do vậy mà việc khử carbon từ công nghiệp đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phải đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Còn tại Việt Nam, ngành xi măng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị, nhưng đồng thời đây cũng là một ngành sản xuất sử dụng năng lượng lớn và có phát thải lớn. Ông Nguyễn Quang Hiệp, Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) dẫn chứng, phát thải CO2 do ngành xi măng phát thải hàng năm tại Việt Nam so với các ngành công nghiệp khác là khoảng 16-17%.

Và theo Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, thì đây là ngành phát thải chỉ đứng thứ 2 sau ngành sản xuất năng lượng. Đặc thù của ngành sản xuất xi măng là phần CO2 phát thải: ngoài việc phát sinh trong quá trình đốt nhiên liệu, lượng CO2 phát thải rất lớn trong quá trình phân hủy đá vôi trong quá trình sản xuất clanhke. Hiện Việt Nam là quốc gia sản xuất xi măng lớn thứ 3 thế giới và chiếm khoảng 16% tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Vì vậy, khử cacbon trong ngành xi măng của Việt Nam có ý nghĩa lớn đối với việc thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Về quá trình giảm phát thải, khử các con của ngành xi măng, ông Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam nêu ra những khó khăn: ngành này khó giảm khí thải trong sản xuất clinker, phương án thu giữ carbon (CCS) không khả thi về mặt tài chính. Một tấn CO2 chôn lấp được báo giá 132 USD, cao gần gấp bốn lần giá xuất khẩu một tấn clinker thành phẩm. Nếu mất số tiền trên để chôn lấp khí thải, chắc chắn ngành xi măng phải đóng cửa. Tuy nhiên, ngành này đang giảm được nhiên liệu hóa thạch trong hoạt động nung clinker, thay bằng rác thải. Đến nay, gần 20 doanh nghiệp (DN) đã đốt rác thay than, có bên đạt tỷ lệ thay thế tới 40%. Ông Long khuyến nghị việc giảm được khí methane (CH4) từ bãi rác nên được trừ vào hạn ngạch.

Giải pháp tiềm năng

Về kỳ vọng biến quá trình khử cacbon thành một cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng chống chịu trong dài hạn, giới chuyên gia vật liệu xây dựng cho rằng, xi măng đất sét nung (LC3) là một loại xi măng hỗn hợp, carbon thấp, với nhiều tiềm năng mang lại giải pháp thực tiễn nhằm giảm hàng loạt clinker trong xi măng thông qua việc sử dụng đất sét nung và đá vôi. Giải pháp này có thể giảm tới 40% lượng phát thải CO2 so với xi măng thông thường. Bà Lê Thị Thanh Thảo, Đại diện quốc gia Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng: Đối với Việt Nam, vấn đề đặt ra không chỉ là LC3 có thể được áp dụng hay không, mà quan trọng hơn là làm thế nào để thích ứng công nghệ này với nguồn nguyên liệu và điều kiện sản xuất và yêu cầu của thị trường trong nước.

PGS.TS Lương Đức Long nhận định, LC3 mang đến cơ hội để ngành xi măng Việt Nam giảm phát thải trong khi vẫn duy trì năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng tăng. Để thúc đẩy việc áp dụng LC3 trên diện rộng, cần có các chính sách hỗ trợ, tiêu chuẩn phù hợp, đầu tư và sự hợp tác liên tục giữa các bên trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Còn theo ông Hoàng Hữu Tân, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), trong các giải pháp giảm phát thải, giảm tỷ lệ clinker thông qua tăng cường sử dụng các phụ gia khoáng phù hợp là một hướng đi có ý nghĩa cả về kỹ thuật, môi trường và kinh tế. Trong bối cảnh đó, LC3 là một giải pháp đáng quan tâm, với tiềm năng giảm sử dụng clinker, giảm tiêu hao năng lượng và giảm phát thải CO₂, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn nguyên liệu sẵn có. Theo ông Tân, đối với Việt Nam, việc phát triển LC3 cần được xem xét một cách toàn diện và trên cơ sở khoa học, từ đánh giá nguồn và chất lượng đất sét; công nghệ nung, nghiền và phối trộn; tính năng và độ bền của xi măng; hiệu quả kinh tế; đến hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và khả năng chấp nhận của thị trường.

Trong khi đó, ở khía cạnh chuyên môn, TS Nguyễn Quang Hiệp, Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) nhận định, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, việc nghiên cứu, phát triển các loại xi măng có hàm lượng clinker thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải CO₂ ngày càng có ý nghĩa quan trọng. LC3 là một giải pháp có nhiều triển vọng. Nhưng để có thể triển khai hiệu quả tại Việt Nam cần được đánh giá đầy đủ về nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, tính năng sản phẩm, hiệu quả kinh tế cũng như hệ thống tiêu chuẩn và điều kiện thị trường. Ông Hiệp cho biết, đây cũng chính là những lĩnh vực mà Viện Vật liệu xây dựng có thể phát huy vai trò của mình trong nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá chất lượng vật liệu, xây dựng tiêu chuẩn và hỗ trợ chuyển giao các giải pháp công nghệ vào thực tiễn sản xuất.

NAM ANH

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nganh-xi-mang-va-nang-luc-canh-tranh-tu-giam-phat-thai.html