Ngày ấy ở Cúc Đường

Những năm 1968 -– 1969 các cơ quan thuộc Khu Tự trị Việt Bắc đang ở thành phố Thái Nguyên thì được lệnh sơ tán lên xã Cúc Đường, huyện Võ Nhai (nay là xã La Hiên), thuộc địa bàn vùng cao của tỉnh Thái Nguyên. Đây là lần sơ tán đầu vì sau này còn có thêm một hai lần sơ tán nữa vào năm 1972...

Những năm 1968 -– 1969 các cơ quan thuộc Khu Tự trị Việt Bắc đang ở thành phố Thái Nguyên thì được lệnh sơ tán lên xã Cúc Đường, huyện Võ Nhai (nay là xã La Hiên), thuộc địa bàn vùng cao của tỉnh Thái Nguyên. Đây là lần sơ tán đầu vì sau này còn có thêm một hai lần sơ tán nữa vào năm 1972.

Cúc Đường vào vụ cấy. Ảnh: Đào Tuấn

Cúc Đường vào vụ cấy. Ảnh: Đào Tuấn

Cúc Đường là một xã miền núi cách thành phố khoảng chừng 40km, nơi đây hầu hết là người dân tộc Tày, nằm giữa một khu rừng già, dân cư sống rải rác, lâu lâu mới bắt gặp mấy ngôi nhà sàn lác đác. Từ thành phố, dọc theo Quốc lộ 1B đến La Hiên rẽ vào chỉ mấy cây số thì hai bên đường đã là rừng. Những ngày trời nắng còn đỡ, gặp ngày mưa thì đường thành bùn nhão. Đi xe đạp gặp cảnh này thì chỉ còn cách vác xe lên vai cả chục cây số. Hẳn những người lãnh đạo lường trước sẽ có thể phải ở lâu dài nên tính nơi ổn định? Sau này bên lâm nghiệp đứng ra mở đường cho xe ra vào khai thác gỗ nên giao thông tiện lợi hơn rất nhiều.

Tất cả các cơ quan Khu khi sơ tán về đây được phân bố nằm rải rác khắp xã Cúc Đường và một vài xã lân cận. Riêng hai cơ quan là Sở Văn hóa Khu tự trị Việt Bắc và Hội Văn nghệ Việt Bắc được bố trí cùng chung trong một khu vực Bản Nhò thuộc xã Cúc Đường, nhưng lại là nơi sâu nhất, xa nhất, hình như tận trong cùng nơi đóng chốt của các cơ quan. Tại đây tất cả cán bộ trong cơ quan đều phải chủ động lên rừng chặt cây, lấy lá hèo lợp mái, chặt rơm trộn đất trát vách tự lo lấy nơi ăn chỗ ở cho mình. Lán nọ cách lán kia tuy chỉ vài mét nhưng vì nằm dưới những gốc cây cổ thụ thân cây rậm rịt, có cây to cỡ người ôm nên cảm giác xa cách. Ở rừng sâu trời mưa nhiều. Có thời gian cả tháng không ngớt mưa, đất trời ẩm ướt, nhiều ngày liền không thấy ánh sáng mặt trời. Khổ nỗi, cán bộ ta ai cũng chỉ vài bộ quần áo, thời tiết vậy không có chỗ phơi phóng nên nhiều khi phải mặc cả những bộ quần áo còn chưa khô hẳn. Cũng chẳng cách gì khác, chỉ hy vọng, khi mặc vào hơi trong người sẽ hút ẩm tự khô thôi.

Cuộc sống cán bộ những ngày ấy khó khăn nên tư trang chẳng có gì. Không tủ giá nên tất cả chăn màn quần áo cứ mỗi sáng được gấp ngay ngắn gọn gàng trên đầu giường. Mà cũng đâu phải giường, chỉ là các khúc cây được cưa đục làm chân chống rồi lấy cây vầu, cây mai, nứa tép đập dập ra xếp lên làm giát giường. May vì là cơ quan liên quan đến viết lách nên ưu tiên được trang bị cho mỗi cán bộ một cái bàn có ngăn kéo và thêm một cái ghế ba nan.

Khu Tự trị Việt Bắc bấy giờ bao gồm 6 tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn do đó cán bộ thường xuyên phải đi về các tỉnh. Cơ quan Hội Văn nghệ Việt Bắc có tờ Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc, cứ hai tháng ra một số; Bên Sở Văn hóa có tờ Tập san Văn hóa Việt Bắc cũng hai tháng một kỳ. Việc phải đi liên hệ thường xuyên tới những nơi như nhà in, bưu điện, cộng tác viên… cũng khá vất vả vì tất cả các cơ quan này cũng đều sơ tán rải rác, thậm chí cách xa nhau cả vài chục cây số. Đi lại tất nhiên phải bằng xe đạp nhưng rồi nhiều khi cán bộ ta vẫn thường phải bỏ xe leo bộ vì có cơ quan đóng chênh vênh trên đồi cao. Công việc bởi vậy phức tạp hơn nhiều so với khi ở trong thành phố vậy mà mọi người rất nhanh thích nghi nên cũng chẳng thấy một tiếng phàn nàn.

Khi ấy bên Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc có 2 biên tập viên một là nhà văn Bùi Công Bính từ Thư ký tòa soạn Báo Hà Giang về, còn người thứ hai là nhà thơ Quang Chuyền. Quang Chuyền vốn là học sinh người Tuyên Quang sang Thái Nguyên học, tốt nghiệp thủ khoa Trung cấp sư phạm Việt Bắc, làm thơ khi còn đi học nên liền được hai giáo viên dạy văn của trường là Khánh Kiểm và Lương Thanh Nghĩa, cũng là hai nhà thơ, hội viên Hội Văn nghệ Việt Bắc giới thiệu Chuyền về Hội. Quang Chuyền hiền lành, khiêm nhường, hay giúp đỡ người khác, ai đùa không biết nói lại, chỉ đỏ mặt bẽn lẽn. Tôi rất quý tính Chuyền vì hay giúp đỡ người khác, ham đọc sách nhưng thật tiếc chúng tôi cũng chỉ ở với nhau tại khu sơ tán Cúc Đường được một thời gian vì từ lúc nào anh đã lặng lẽ trích máu làm đơn tình nguyện xin đi bộ đội. Đang giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhưng cũng phải sau nhiều lần kiên trì thì nguyện vọng chính đáng của anh mới được cấp trên chấp nhận. Quang Chuyền rời Hội Văn nghệ Việt Bắc trở thành lính Trung đoàn 132 xây dựng đường dây Bắc - Nam dọc Trường Sơn.

Cuộc sống nơi sơ tán ngày ấy hoàn toàn không điện, không đài, không điện thoại. Ban ngày ngoài lúc bận rộn công việc, tối đến chẳng biết làm gì nên cán bộ ta hoặc ngủ sớm hoặc chỉ biết rủ nhau đánh bài, đánh cờ giết thời giờ. Tôi dám chắc ít ai mê cờ tướng như nhà văn người Tày Nông Minh Châu. Cứ thấy đâu có người đánh cờ là như có mặt ông, nếu không được trực tiếp cầm quân thì ông đứng bên ngoài chỉ trỏ mách nước. Một lần, nhân mấy ngày nghỉ, có nhà thơ người Sán Dìu Bàng Bắc Hải ở Phòng Văn nghệ Ty Văn hóa Thái Nguyên đạp xe tìm đến nơi Hội Văn nghệ Việt Bắc sơ tán thăm mọi người, vốn cũng là tay cờ có hạng nên được lời mời, ông ở lại để chơi cờ với nhà văn Nông Minh Châu. Hai ông đã ngồi suốt đêm, vì nửa đêm có người thức dậy vẫn còn thấy ánh đèn dầu le lói rồi tiếng quân cờ đập vào nhau chan chát. Sớm hôm sau mọi người vẫn thấy hai người đang như ngủ nửa ngồi ngay bên cạnh bàn cờ. Cũng chưa hết, sau đó họ còn ngồi chơi tiếp như gần suốt ngày hôm ấy. Nhà văn Nông Viết Toại kể lại, ông báo cơm nhưng đến trưa vẫn không thấy hai người đi ăn, lên gọi nhưng mải chơi, họ bảo, cứ để đấy lát bọn tôi ăn. Vì sợ chị cấp dưỡng không thấy còn ai sẽ dọn đi nên ông Toại đã phải lụi hụi đem cả hai suất cơm về tận lán cho các ông. Vậy mà đến chiều nhà văn Nông Viết Toại vẫn thấy hai suất cơm còn nguyên bên cạnh. Còn nhà văn Nông Minh Châu và nhà thơ Bàng Bắc Hải thì như vẫn mải mê bên bàn cờ. Quên ngủ lại quên cả ăn.

Trong rừng sâu thường có những đợt mưa liên miên, trời luôn ẩm ướt nên rất nhiều rắn rết, côn trùng. Một lần tôi mở ngăn kéo bàn làm việc của mình định lấy thứ gì đó thì trong ngăn có một con rắn không biết nằm trong đó từ bao giờ, thấy động nó lập tức thò ngay đầu thè lưỡi phun phì phì như muốn lao tới khiến tôi khiếp chân lùi ngay lại. May con rắn không lao tới người mà rất nhanh trườn qua bàn leo rất nhanh lên mái nhà mất hút.

Nhà thơ người Dao Tiền Bàn Tài Đoàn, Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc lại không được may mắn như vậy. Một buổi tối đi họp về, đã gần đến lán của mình thì cụ bất ngờ bị một con rắn cắn vào chân. Không ngờ lại là rắn độc. Quá đau cụ ú ớ, ngã vật xuống đất. May cùng lúc đó có mấy người đi cùng thấy vậy kịp đỡ được cụ dậy rồi dìu đưa vào lán. Mọi người xúm đông, lao xao bàn cách cứu chữa nhưng dù đã áp dụng đủ cách vẫn không thấy thuyên giảm. Ông Trương Lạc Dương, nhà thơ người Tày, mới từ Tổng biên tập báo Việt Nam Độc lập sang làm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc còn đem cả lồng gà con mới nuôi của mình sang để cho chúng hút nọc độc. Theo ông bảo, đấy là kinh nghiệm vùng ông. Nhưng cũng không kết quả. Mọi người phải lấy vải garo để không cho nọc rắn lan sang chỗ khác. Nhưng rồi bên chân bị rắn cắn to dần sưng tấy lên. Cơ quan phải tức tốc thay nhau khiêng cụ lên cáng đưa sang bệnh viện Khu sơ tán cách đó mấy cây số. Một ngày sau chân cụ không đỡ mà đã sưng vù, to như cột nhà, nhìn rất tệ. Lệnh phải đưa cấp tốc lên Hà Nội. Ngay đêm ấy tôi cùng bác sĩ Long ở Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ Khu được cử theo xe Com-măng-ca đưa cụ đi. Trên đường, vì vết thương ở chân quá đau, xe chạy lại xóc nên thấy cụ rên nhiều. Muốn nói anh lái xe chạy nhanh nhưng biết làm sao, đang chiến tranh, máy bay Mỹ đêm ngày rình rập nên tất cả mọi phương tiện đi trên đường để an toàn nên đêm tối đều không được để lộ ánh sáng. Xe chở cụ cũng phải chạy rất chậm. Tôi nghe tiếng rên của cụ. Biết vết thương làm cụ đau lắm nhưng không để chúng tôi lo lắng, sốt ruột nên cụ cố nén, chỉ rên rất khẽ. Đi từ tối mà mãi khi có tiếng nhạc hiệu Đài Tiếng nói Việt Nam nổi lên thì xe mới đưa được cụ về đến Bệnh viện Việt - Xô. Như mọi người biết, ngay ban đầu do băng bó quá chặt nên để lâu, vết thương đã hoại tử. Không còn biện pháp nào khác, bệnh viện đành chỉ biết cưa đi một chân của cụ.

Buồn nỗi, ở vùng rừng núi nhiều rắn rết nên bà con dân tộc nơi đây có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chữa rắn cắn, vậy nhưng đến nhà thơ Bàn Tài Đoàn gặp nạn thì lại không may mắn được chữa trị kịp thời.

HUY THẮNG

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/sang-tac-van-hoc/202605/ngay-ay-o-cuc-duong-7a73f9c/