Ngày xuân, tìm về khát vọng công lý dân gian người Việt
Trong chế độ phong kiến hà khắc xưa, hầu như không có công lý ở đời thực. Với một khát vọng mãnh liệt vào lẽ công bằng, dân gian kiến tạo riêng cho mình những biểu tượng công lý, từ đó lấp lánh tỏa ra ánh sáng minh triết về thời thế và nhân thế, sẽ còn làm ngạc nhiên nhiều đời sau.
Lý Thông ác thế thì phải có lưỡi búa của Thần Sét giáng xuống đầu. Vẫn chưa tương xứng với tội lỗi, dân gian lại “hóa kiếp” thành loài bọ hung. Mẹ con Cám tàn nhẫn thế thì không thể chết một lần, mà phải chết hai, ba lần...
Có cả một hệ thống thành ngữ, tục ngữ khuyên con người sống thật thà để hưởng phúc: “Ở hiền thì lại gặp lành/ Những người nhân đức trời dành phước cho”; “Ở hiền thì lại gặp lành/ Nhược bằng ở dữ, tan tành cái con”; “Ác giả ác báo”; “Gieo nhân nào gặt quả ấy”...

Minh họa: QUANG CƯỜNG
Người Việt có mỹ tục ngày xuân đi lễ chùa cầu mong an lành, may mắn. Sâu thẳm trong phong tục ấy là những khát vọng về công lý cuộc đời công bằng, nhân văn, trong sáng, lành mạnh.
Bước qua cổng chùa sẽ gặp đầu tiên là hai pho tượng Hộ pháp, mô phỏng hình ảnh các võ sĩ cổ, mặc áo giáp, đội mũ, được tạc trong tư thế đứng hoặc ngồi trên lưng sư tử. Bên trái bàn thờ Phật là tượng Khuyến Thiện (ông Thiện), tay cầm viên ngọc “thiện tâm”, mặt trắng, hiền lành, thanh thản. Đối diện ông Thiện là tượng Trừng Ác (ông Ác) mặt đỏ, giận dữ, tay cầm vũ khí như để trừng trị những kẻ có tâm địa xấu xa. Hai vị Hộ pháp này còn mang ý nghĩa tâm linh, bảo vệ chốn thờ phụng linh thiêng khỏi sự xâm nhập của ma quỷ hay những kẻ tà giáo. Ở những chùa lớn còn có cả mô hình của điện Diêm vương, nếu ai vào lần đầu sẽ dễ sợ hãi, bởi đó là những mô hình quỷ sứ tra tấn, trừng phạt.
Theo Hán tự, “Diêm vương” nghĩa là trói buộc, bắt giữ những người có tội. Chịu ảnh hưởng của quan hệ tôn nghiêm, đa tầng, đa bậc ngoài xã hội, cõi âm của Diêm vương có thêm “Thập điện âm phủ”. Đứng đầu mỗi điện là một vị Minh vương làm công việc luận tội người đã chết phạm phải khi còn sống trên dương gian rồi thưởng phạt công minh. Hình tượng Diêm vương và Thập điện là một biểu hiện cụ thể cho thuyết nhân quả hướng con người ta sống thiện, “ở hiền gặp lành”. Sống ác sẽ chịu quả báo...
Nơi Quan Thế Âm Bồ tát sinh ra (Ấn Độ cổ đại) thì hầu hết là đàn ông nhưng sang Việt Nam thì đều trở thành Phật bà. Điều này có thể hiểu do bản sắc “thiên tính nữ” ở bản địa xứ Việt đã tạo ra độ khúc xạ để thay đổi cho phù hợp. Tình yêu thương con người, tôn trọng phụ nữ trong văn hóa truyền thống gặp gỡ tư tưởng từ bi hỷ xả của Phật giáo đã kết thành vở chèo Quan Âm Thị Kính với hai nhân vật Thị Kính, Thị Mầu chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Vở chèo cổ tỏa ánh sáng vào bầu trời văn hóa Việt đã hàng mấy thế kỷ, làm mê đắm, thổn thức hàng triệu trái tim bao thế hệ. Được xây cất bằng vật liệu tư tưởng về con người của văn hóa dân gian bản địa, văn hóa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo nên tác phẩm đa dạng, nhiều vẻ về cấu trúc hình tượng. Bởi được khúc xạ và tích hợp từ nhiều nguồn mỹ học nên đa nghĩa và phát ra những ánh sáng ý nghĩa rất riêng.
Nghệ thuật phải tạo ra sự ám ảnh. “Quan Âm Thị Kính” đã ám ảnh với những câu hỏi nhức nhối: Tại sao Thị Kính tốt, hiền lành cam chịu thế mà bị oan, còn oan thảm, oan hai, ba lần? Phải chăng câu trả lời là ở cái ý: “Trong cái xã hội đầy tai ương, đầy mâu thuẫn, phi lý như thế thì người tốt, cái tốt không tồn tại. Do vậy muốn cho cái tốt, người tốt được yên ổn thì phải thay đổi cả cái xã hội ấy. Không thể. Nhưng người tốt, cái tốt thì rất cần được bênh vực, khẳng định.
Thế nên Thị Kính được đổi thành kiếp Phật. Đây vừa là quan niệm nhà Phật: “Đời là bể khổ”, đồng thời là quan niệm “hóa kiếp” nhân ái của tín ngưỡng tình thương của dân gian. Đời người khổ quá nên “hóa kiếp” cho nhân vật được sống sung sướng, hạnh phúc hơn. Dân gian muốn nhắn nhủ rằng con người ta phải có chữ “Nhẫn”. Sự gặp gỡ, tương giao giữa triết lý “ở hiền gặp lành” của người Việt với tinh thần cứu độ của Phật giáo đã nâng hình tượng Thị Kính hóa thân thành Quan Âm trong vòng hào quang khát vọng: Cái tốt phải được hóa Phật!
Ngày xưa, mùa xuân thường diễn chèo, “Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” ("Mưa xuân"-Nguyễn Bính). Vở Tống Trân-Cúc Hoa rất được ưa chuộng, có đêm phải diễn đi diễn lại. Dân gian thích nhất các trích đoạn: Tống Trân đóng giả người ăn mày vào ăn xin trong đám cưới của Đình trưởng (với Cúc Hoa), Đình trưởng cho Tống Trân khúc xương trâu thật to, bắt gặm và đoạn Tống Trân đưa quân về, việc đầu tiên là “Đòi chú Đình trưởng kíp sang/ Khỏe răng bắt cắn khúc xương ba ngày”.
Đó chính là niềm hả hê công lý của người xưa: Gieo gió gặt bão! Cũng đúng với khát vọng dân gian, “bão” mạnh hơn “gió” nên kẻ ác phải chịu lại nhiều sự ác hơn (ba ngày gặm xương). Trong thế giới truyện Nôm, dưới hình thức tiếng cười khỏe khoắn, mạnh mẽ, lành mạnh của dân gian, những nhân vật đáng ghét, tiêu cực, phản động đều bị chết đi chết lại nhiều lần. Đó như là một logic tất yếu của sự công bằng-một khát vọng nhân văn vĩnh cửu!











