Nghệ An giữ 'kho gen' bản địa, mở đường cho sản phẩm đặc hữu

UBND tỉnh Nghệ An vừa phê duyệt 'Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026-2030'. Đề án đặt mục tiêu vừa gìn giữ các nguồn gen quý, hiếm, vừa khai thác hợp lý để tạo giá trị kinh tế - từ cơ sở dữ liệu số, mạng lưới lưu giữ đến hướng xây dựng Công viên lưu giữ, bảo tồn và khai thác nguồn gen tại xã Đồng Hiếu.

Nghệ An từ lâu được xem là khu vực đa dạng sinh học của Bắc Trung Bộ nhờ địa hình trải dài từ vùng biển đến trung du - miền núi, nơi tập trung nhiều hệ sinh thái rừng, sông suối và vùng nông nghiệp đặc thù. Tuy nhiên, đi kèm tiềm năng ấy là những nguy cơ mất mát nguồn gen khi biến đổi khí hậu, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức và sự xâm lấn của loài ngoại lai đang tạo sức ép ngày càng rõ. Đề án khung 2026-2030 vì vậy mang tính “đặt nền” cho một cách tiếp cận bài bản: điều tra - đánh giá - bảo tồn - và phát triển, thay vì chỉ dừng ở bảo vệ thụ động.

Nghệ An từ lâu được xem là khu vực đa dạng sinh học của Bắc Trung Bộ

Nghệ An từ lâu được xem là khu vực đa dạng sinh học của Bắc Trung Bộ

“Kho gen” bản địa và bài toán bảo tồn trong bối cảnh nhiều sức ép

Hiện nay, Nghệ An sở hữu nhiều nguồn gen có giá trị ở cả cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi, thủy sản, nấm lớn và vi sinh vật. Đó có thể là những giống cây địa phương gắn với tập quán canh tác, những loài dược liệu quý ở vùng núi cao, hay các giống vật nuôi bản địa thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Ví dụ như: Cam Bù Sen, lúa nếp tím, cá leo, cá bỗng, đẳng sâm, ba kích tím… Giá trị của nguồn gen không chỉ nằm ở “độc bản” về di truyền, mà còn ở khả năng cải tạo giống, nguyên liệu mới và sản phẩm mới - tức là một loại “tài sản nền” cho nông nghiệp, y dược và kinh tế sinh học.

Tuy vậy, nguồn gen lại là dạng tài nguyên rất “mỏng manh”: một giống cây mất đi là mất luôn quỹ gen tích lũy qua nhiều thế hệ; một loài đặc hữu suy giảm đến ngưỡng nhất định thì việc phục hồi trở nên tốn kém, thậm chí bất khả thi. Đề án chỉ ra các nhóm nguyên nhân phổ biến dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học: thay đổi sinh cảnh, tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan, hoạt động khai thác thiếu kiểm soát, cùng những yếu tố phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đặt trong bối cảnh Nghệ An có không gian sinh thái rộng, “bài toán” càng phức tạp: bảo tồn không thể tách rời sinh kế, và càng không thể tách rời định hướng sản phẩm.

Đề án vì vậy lựa chọn cách tiếp cận theo chuỗi: bảo tồn đi cùng khai thác bền vững. Thay vì chỉ “niêm phong” tài nguyên, tỉnh đặt mục tiêu hình thành hệ thống thông tin - cơ sở dữ liệu và các mô hình lưu giữ, để nguồn gen vừa được gìn giữ an toàn, vừa có điều kiện “đi vào sản xuất” thông qua chọn tạo giống, nhân giống và phát triển sản phẩm đặc hữu gắn vùng miền.

Điều tra 10-20 nguồn gen, xây dữ liệu số, hướng tới “công viên nguồn gen”

Về mục tiêu cụ thể, đề án đặt ra nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và bổ sung tư liệu cho khoảng 10-20 nguồn gen bản địa (tùy nhóm đối tượng), trong đó phân bổ theo các mảng như cây nông nghiệp - lâm nghiệp, cây dược liệu, vật nuôi, thủy sản, nấm lớn và vi sinh vật. Điểm đáng chú ý là phạm vi không chỉ dừng ở “liệt kê”, mà nhấn mạnh đánh giá chỉ tiêu di truyền, chất lượng, khả năng thích nghi và giá trị sử dụng, những tiêu chí cần thiết để quyết định bảo tồn theo hướng nào và khai thác ra sao.

Về phương thức bảo tồn, đề án định hình kết hợp cả bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển. Cùng với đó là định hướng kết nối mạng lưới quốc gia về bảo tồn nguồn gen, nhằm nâng mức an toàn và chia sẻ dữ liệu, tránh tình trạng “mỗi nơi làm một kiểu”, dữ liệu phân tán.

Một trụ cột quan trọng khác là xây dựng cơ sở dữ liệu số về nguồn gen của Nghệ An: chuẩn hóa thông tin, cập nhật thường xuyên, xuất bản các ấn phẩm/báo cáo khoa học và phổ biến tri thức cho cộng đồng. Khi dữ liệu được số hóa và “định danh”, nguồn gen mới thật sự trở thành tài sản có thể quản trị: biết đang có gì, ở đâu, nguy cơ ra sao và khả năng phát triển thế nào.

Đi cùng bảo tồn là câu chuyện phát triển sản phẩm

Đi cùng bảo tồn là câu chuyện phát triển sản phẩm

Đề án cũng nêu mục tiêu hình thành các mô hình, hạ tầng lưu giữ - bảo tồn mang tính dài hạn, trong đó có định hướng xây dựng Công viên lưu giữ, bảo tồn và khai thác nguồn gen tại xã Đồng Hiếu. Đây có thể coi là “điểm neo” để tập trung trưng bày, lưu giữ, nghiên cứu, nhân giống và chuyển giao; một không gian vừa kỹ thuật vừa truyền thông, giúp bảo tồn trở nên hữu hình, có điểm đến và có đầu mối vận hành.

Đi cùng bảo tồn là câu chuyện phát triển sản phẩm. Danh mục ưu tiên trong phụ lục cho thấy tỉnh hướng đến nhiều nhóm nguồn gen gắn với khả năng thương mại hóa: từ cây dược liệu, cây bản địa, đến các loài thủy sản và vật nuôi địa phương. Đề án cũng đặt vấn đề xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu xác nhận, chuẩn hóa quy trình và chuỗi giá trị để các đặc sản không chỉ “nổi tiếng truyền miệng” mà có hệ tiêu chuẩn, có thương hiệu và có thị trường bền vững.

Về tổ chức thực hiện, đề án xác định vai trò quản lý nhà nước của UBND tỉnh; cơ quan chủ trì chuyên môn là Sở Khoa học và Công nghệ; đơn vị triển khai gắn với nhiệm vụ kỹ thuật là Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An, phối hợp cùng các sở, ngành, địa phương và các đơn vị nghiên cứu - sản xuất. Khung vận hành này cho thấy chủ trương “đưa bảo tồn về đúng chỗ”: đặt trong hệ thống quản lý, nhưng phải có lực lượng kỹ thuật làm nền và phải có địa phương - doanh nghiệp tham gia để biến nguồn gen thành giá trị sống.

Từ góc nhìn dài hạn, “đề án khung” là bước đi quan trọng: nó tạo ra bản đồ nhiệm vụ, tiêu chí lựa chọn nguồn gen, cách thức lưu giữ và con đường phát triển sản phẩm. Nếu triển khai đúng tinh thần, Nghệ An có thể vừa giữ được quỹ gen bản địa trước các rủi ro, vừa mở ra một hướng tăng trưởng xanh dựa trên tài nguyên di truyền - thứ giá trị nhất của tự nhiên, nhưng cũng dễ mất nhất nếu chậm tay.

Đức Thuận

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nghe-an-giu-kho-gen-ban-dia-mo-duong-cho-san-pham-dac-huu-176930.html