Nghệ nhân mo Mường - kể lại chuyện xưa để giữ gìn văn hóa hôm nay

Miệt mài kể lại chuyện xưa qua những sử thi như “Đẻ đất đẻ nước”, các nghệ nhân mo Mường đang giữ gìn linh hồn văn hóa Mường, kết nối quá khứ với hiện tại, truyền lại đạo lý làm người và lòng tri ân tổ tiên cho các thế hệ mai sau.

Sau buổi mo, thầy Bùi Ngọc Dĩnh, xã Ngọc Trạo cẩn thận cất bộ đồ nghề.

Sau buổi mo, thầy Bùi Ngọc Dĩnh, xã Ngọc Trạo cẩn thận cất bộ đồ nghề.

1. Thanh Hóa là một trong số ít tỉnh có di sản mo Mường và vẫn bảo tồn, phát huy được giá trị của di sản. Theo kết quả kiểm kê mới nhất, toàn tỉnh hiện có 165 nghệ nhân mo Mường, trong đó dưới 60 tuổi là 61 người, từ 60 - 80 tuổi là 85 người và trên 80 tuổi là 19 người. Tuy nhiên, để được cộng đồng công nhận là nghệ nhân mo bậc thầy (những người có thể thuộc và thực hiện được đầy đủ các roóng mo trong nghi lễ mo tang ma và có gia đình nhiều đời làm mo) thì chỉ có 4 người.

Người có số năm thực hành nghề nhiều nhất là thầy mo Nguyễn Đình Đương, sinh năm 1942, xã Ngọc Liên. Với 60 năm làm mo, ông là một trong những nghệ nhân đang nắm giữ hàng trăm bài mo, áng mo của di sản mo Mường. Ngoài ra còn có ông Bùi Ngọc Dĩnh, gia đình có 7 đời làm mo; ông Bùi Văn Kiên, sinh năm 1965, gia đình có 5 đời làm mo; ông Trương Ngọc Đỉnh là đời thứ 5 trong gia đình liên tiếp làm mo, riêng ông đã thực hiện khoảng 900 nghi lễ.

Bên cạnh những thầy mo, ở Thanh Hóa hiện có 120 người khác đang tham gia thực hành nghi lễ. Ngoài nghi lễ mo tang ma cúng cho linh hồn người chết, kết quả kiểm kê tỉnh Thanh Hóa còn ghi nhận 21 nghi lễ khác như: mo đắp mả (khi người trong nhà ốm đau), mo vía, mo mừng cơm mới, mo trong các lễ hội, mo mời gia tiên về ăn năm mới, mo trả nợ, mo kéo si, mo tơm ma (đuổi tà ma để người ốm khỏe lại), mo đám cưới, mo dâu (khi đón dâu về nhà), mo về nhà mới, mo Pồn Pông... Cùng với đó là 764 hiện vật, gồm 208 chiếc kiếm, 282 chiếc chuông, 71 chiếc chiêng, 153 bộ trang phục và 50 bộ tranh ảnh.

Những con số ấy phác nên bức tranh toàn cảnh về đời sống tâm linh của người Mường và vai trò của các thầy mo. Theo các nhà nghiên cứu, mo Mường hình thành từ hàng nghìn năm trước, khi con người chưa có chữ viết. Những mo lang (có nơi gọi là thầy mo) bằng trí nhớ phi thường, đã thuộc hàng vạn câu mo và truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Mỗi lời mo vừa là lời tiễn biệt, vừa là lời nhắc nhở cộng đồng về cội nguồn sinh tồn. Trong kho tàng ấy, nổi bật nhất là những áng “mo sử thi”, kể về thuở khai thiên lập địa, về sự tích “Đẻ đất đẻ nước”, về sự ra đời của muôn loài và cả những nghi lễ gắn bó với đời sống bản mường.

Người Mường có câu: “Nhà có ma, mường có mo”. Câu nói ấy khẳng định vai trò không thể thiếu của mo trong đời sống cộng đồng. Bởi, người Mường có “Mường sống” và “Mường ma”, khi lìa cõi dương, linh hồn phải vượt qua một hành trình đầy chông gai để đoàn tụ cùng nguồn cội. Tiếng mo cất lên trong đêm tang lễ chính là ánh sáng soi đường, là sợi dây nối kết người ở lại với người đã khuất.

2. Năm nay thầy mo Bùi Ngọc Dĩnh, thôn Ngọc Trạo, xã Ngọc Trạo đã 72 tuổi. Từ khi còn nhỏ, thầy mo Dĩnh đã chứng kiến từ ông nội đến bố cúng mo cho nên sớm thuộc hầu hết những "roóng mo". Bắt đầu vào nghề từ năm 1994, đến nay có ông có 32 năm làm mo và thực hiện mo cho hơn 2.500 đám tang tại địa phương.

Khi chúng tôi đến cũng là lúc thầy Dĩnh vừa đi mo về. Ông cho biết, từ khi vào nghề đến nay, tháng nào ông cũng đi mo, tháng ít thì 2 - 3 lần, có tháng tới 7 lần, ngắn thì chỉ một đêm, dài thì tròn 2 ngày 1 đêm.

32 năm trong nghề, thầy Dĩnh cho biết: “Dù đích cuối cùng là đưa vong linh các cụ về thế giới khác, nhưng mỗi địa phương một kiểu, mỗi thầy một kiểu mo. “Rành nghề” lắm rồi, nhưng chúng tôi vẫn phải tìm hiểu, học hỏi để biết chỗ nào nên mo, chỗ nào không nên”.

Bộ trang phục hành lễ được các thầy mo chỉnh trang trước khi bắt đầu nghi lễ mo tang ma.

Bộ trang phục hành lễ được các thầy mo chỉnh trang trước khi bắt đầu nghi lễ mo tang ma.

Quan niệm của người Mường nay cũng đã đổi khác. Có nhà khó mấy cũng phải đón được thầy mo về nhưng cũng có nhà không mo, chỉ cúng.

Thầy Dĩnh nói với chúng tôi nhiều về chữ duyên. Ông tự nhận mình khó tính trong việc chọn học trò. Dù dạy rất nhiều, nhưng đến nay ông chỉ có một học trò. “Quan điểm của tôi là đi mo là làm phúc, vì thế thầy mo không chỉ có kiến thức văn hóa, “học bài” nhanh mà tư chất đạo đức phải hiền hòa, dễ chịu, biết lắng nghe thì tôi mới tin tưởng trao lời mo được”, ông Bùi Ngọc Dĩnh chia sẻ.

...18h, thầy mo Bùi Văn Thiết, xã Ngọc Liên đến nhà gia chủ. Trên bàn cúng, gia chủ đã bày biện mâm cơm cúng gồm rượu trắng, xôi nếp, thịt gà và các món mặn khác. Ông chỉnh trang lại quần áo, ngồi xuống và cất lên lời mo. Đây cũng là lúc buổi lễ bắt đầu.

Thầy mo Bùi Văn Thiết cho biết: “Trong vòng đời người Mường có một loạt nghi lễ: đứa bé chào đời có nghi lễ làm vía, chẳng may ốm đau có nghi lễ giữ vía, về già có nghi lễ buộc vía và nghi lễ cuối cùng chính là nghi lễ tang ma. Vì thế, đây là nghi lễ rất quan trọng. Việc kết thúc một kiếp người không chỉ là kết thúc một cuộc đời mà còn là bước sang một hành trình mới, về một thế giới khác. Mo tang ma chính là cách người Mường ứng xử với cái chết của người thân”.

Qua nghi lễ tang ma và nội dung các bài mo có thể thấy, người Mường rất coi trọng việc vỗ về linh hồn người chết và an ủi, động viên người sống. Có lẽ vì thế mà cuộc chia ly đau đớn với người thân được an ủi phần nào. Cái chết không còn đáng sợ, không phải là sự kết thúc mà là bắt đầu một hành trình mới. Thêm nữa, hành trình này không cô đơn lạnh lẽo mà đã có người thân đón đợi, không phải là ra đi mà là trở về, trở về với nguồn cội.

3. Giá trị của Mo Mường đã được khẳng định. Số lượng người thực hành nghi lễ hiện đông hơn trước, song việc gìn giữ những giá trị văn hóa độc đáo của Mo Mường đang dần bị thu hẹp và có nguy cơ mai một.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này. Trước hết, do một thời gian dài bị gián đoạn, bị hiểu lầm là mê tín, dị đoan, nghệ nhân dân gian không có môi trường thực hành nên nhiều bài mo rơi vào quên lãng. Tiếp đó là sự thay đổi về lối sống, sinh hoạt của chính đồng bào Mường. Nhiều nghi lễ khiến thời gian tang ma kéo dài, không phù hợp với nếp sống văn hóa mới. Tuy nhiên, trong quá trình vận động xây dựng việc tang văn minh, tiến bộ, một số cán bộ địa phương nhận thức chưa đầy đủ nên đã “cắt xén” quá mức, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn mo Mường.

Việc đào tạo, truyền dạy mo Mường cũng gặp nhiều khó khăn, ngay cả việc lựa chọn được người học cũng không dễ dàng, do phải hiểu và biết được tiếng nói, chữ viết của dân tộc Mường. Chưa kể, việc học mo Mường, hành nghề mo hiệu quả không cao, mất rất nhiều thời gian. Những người dạy mo Mường như Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đình Đương là không nhiều. Ông đã dạy cho khoảng 25 người trong làng, xã, khu vực lân cận. Song, ở tuổi 84, ông đang mang bệnh trọng. “Chúng tôi vẫn tự hỏi, sau ông Đương ai sẽ là người gánh vác việc truyền dạy mo Mường”, bà Bùi Thị Nhung, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Ngọc Liên cho biết.

Người Mường không có chữ viết riêng, nên mo chính là “cuốn sách” để người Mường ghi nhớ, để lưu giữ ký ức tập thể về con đường sinh tồn của mình. Ngày 29/3/2024, Văn phòng Chính phủ có văn bản đồng ý đệ trình UNESCO xem xét, đưa Di sản văn hóa phi vật thể mo Mường vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là “tín hiệu” để chúng ta tin tưởng rằng mo Mường sẽ tiếp tục được trao truyền, thực hành và lan tỏa trong cộng đồng.

Bài và ảnh: Kiều Huyền

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/nghe-nhan-mo-muong-nbsp-ke-lai-chuyen-xua-nbsp-de-giu-gin-van-hoa-hom-nay-302302.htm