Nghệ thuật chuyển hóa thế và lực trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 có quy mô rất lớn, không gian tác chiến rộng trong thời gian tương đối ngắn, tập trung chủ yếu trong 3 đòn tiến công chiến lược (Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh).

Thắng lợi to lớn của cuộc tổng tiến công chiến lược là một mốc son chói lọi kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra kỷ nguyên mới: Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất; qua đó cho thấy bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc ta... Đặc biệt, để kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, những yếu tố về nghệ thuật tác chiến đã được quân và dân ta vận dụng rất sáng tạo, linh hoạt; trong đó, nghệ thuật chuyển hóa thế và lực có nhiều nét đặc sắc, để lại những vấn đề học thuật mang tầm chiến lược, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng.

Sơ đồ các cánh quân tiến công giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4-1975. Nguồn: Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam

Sơ đồ các cánh quân tiến công giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4-1975. Nguồn: Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam

Thứ nhất, nghệ thuật chuyển hóa thế và lực trong đòn tiến công chiến lược mở đầu giải phóng Tây Nguyên.

Trong đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên, ý định ban đầu của ta là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng Buôn Ma Thuột và Nam Tây Nguyên, mở rộng hành lang, nối liền Tây Nguyên với Đông Nam Bộ; thực hiện chia cắt, tạo cục diện mới về chiến lược. Để thực hiện ý định đó, việc tạo ưu thế về lực lượng và phương tiện là yếu tố rất quan trọng, được Bộ Tổng Tư lệnh, người chỉ huy và cơ quan chiến trường của ta hoạch định rất tỉ mỉ, có tính nghệ thuật cao. Ta đã kết hợp giữa lực lượng tại chỗ (28 tiểu đoàn bộ binh) với lực lượng của Bộ tăng cường (14 tiểu đoàn bộ binh) và chủ lực của Quân khu 5, của Đông Nam Bộ đến phối hợp (10 tiểu đoàn) cùng LLVT địa phương, hình thành một tập đoàn chiến lược mạnh; nhưng để lừa địch và giữ bí mật cao nhất của phương án tác chiến, ta “chưa vội” thành lập quân đoàn chủ lực... Bằng cách này, ta đã tạo được ưu thế về binh lực và phương tiện so với địch, nhất là trên hướng chủ yếu của chiến dịch và ở trọng điểm đột phá khẩu Buôn Ma Thuột.

Đặc biệt, nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ quyền chủ động trong tác chiến cũng là nét nổi bật và là thành công lớn của ta ở cả cấp chiến lược và chiến dịch. Ta đã tiến hành một loạt biện pháp nghi binh công phu để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch ở Bắc Tây Nguyên, trong khi ta tập trung lực lượng tiến công địch ở Nam Tây Nguyên; do đó, khi ta tiến công mạnh ở Nam Tây Nguyên, địch hoàn toàn bị bất ngờ và nhanh chóng thất bại... Điều đó còn cho thấy, tuy ta đã tăng cường đến chiến trường Tây Nguyên 4 sư đoàn bộ binh (316, 968, 10, 320), về chiến dịch ta cũng chỉ hơn địch chút ít về bộ binh nhưng ta đã khéo nghi binh lừa địch, tạo ra ưu thế áp đảo trên hướng chủ yếu của chiến dịch (bộ binh 4,5/1, tăng-thiết giáp 5,5/1, pháo binh 5/1...). Do có ưu thế lực lượng lớn, tạo thế vây cắt tốt và cách đánh hay, ta đã giành thắng lợi nhanh trong trận then chốt mở đầu ở Buôn Ma Thuột.

Quân ủy Trung ương bàn phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, tháng 4-1975). Ảnh tư liệu

Quân ủy Trung ương bàn phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, tháng 4-1975). Ảnh tư liệu

Thắng lợi của trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột đã tạo đà cho ta tiêu diệt Sư đoàn 23 ngụy tại Phước An, mở ra một thế phát triển về chiến dịch và chiến lược để LLVT Tây Nguyên phá vỡ thế trận phòng thủ của địch, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng của chúng ở Tây Nguyên, làm rung chuyển thế trận của địch trên toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho ta giải phóng toàn bộ địa bàn Tây Nguyên và nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng duyên hải miền Trung, cắt đôi thế bố trí chiến lược của địch; nhất là đã tạo ra thời cơ để cuộc tiến công chiến lược phát triển thành cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam.

Cũng từ thắng lợi to lớn đó, mà đến ngày 18-3-1975, khi ta chuyển lên tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, so sánh tổng quân số địch, ta là 1,38/1 (địch: 625.600, ta: 451.200), trong đó quân chủ lực là 1/1,26 (địch: 299.800, ta: 379.473), quân địa phương là 4,5/1 (địch: 325.800, ta: 71.727)... Trong khi đó, ở thời điểm tháng 2-1975, so sánh tổng quân số địch, ta ở miền Nam là 1,7/1 (địch: 690.000, ta: 418.225), trong đó quân chủ lực là 1/1,03 (địch: 336.500, ta: 346.498), quân địa phương là 4,9/1 (địch: 353.500, ta: 71.727)(1)... Thực tế đó đã cho thấy thắng lợi của đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên không chỉ tạo ra bước phát triển mới về thế trận chiến lược, chiến dịch mà còn góp phần quan trọng làm cho cán cân lực lượng chiến lược của ta và địch có sự thay đổi rất đáng kể.

Thứ hai, nghệ thuật chuyển hóa thế và lực trong đòn tiến công chiến lược gối đầu giải phóng Huế-Đà Nẵng.

Xe tăng Quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Xe tăng Quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Trong lúc đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên tập trung đánh địch phản kích ở Buôn Ma Thuột và tổ chức chặn đánh, tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 ngụy rút chạy trên Đường 7 thì Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 mở hai chiến dịch quy mô vừa, đánh địch ở đầu phía Bắc thuộc Quân đoàn 1, Quân khu 1 ngụy. Nhất là, khi đòn tiến công Tây Nguyên của ta giành được thắng lợi đã làm cho thế trận chiến lược của địch đứng trước nguy cơ bị cắt đôi, Quân khu 3 ngụy bị uy hiếp trực tiếp, địch buộc phải rút bỏ Quảng Trị, đưa lực lượng về thực hiện co cụm chiến lược. Trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, ngày 24-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công vào Đà Nẵng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2, Quân khu 5 đã nhanh chóng chuyển hai chiến dịch quy mô vừa thành chiến dịch tiến công quy mô lớn để nhanh chóng tiêu diệt cụm quân lớn của địch, giải phóng Huế-Đà Nẵng.

Trong đòn tiến công chiến lược này, ta có được ưu thế rất cơ bản, đó là: Tuy so sánh về lực, ta còn kém địch nhưng ta có thế mạnh hơn hẳn địch, có thế thắng của Tây Nguyên, thế bao vây, chia cắt hiểm nên vẫn tạo ra sức mạnh hơn địch ở các mục tiêu tiến công là Huế, Tam Kỳ và cuối cùng là Đà Nẵng với thế và lực áp đảo, thực hiện đánh nhanh, thắng nhanh... Do đó, chỉ qua hơn một tháng liên tục tổng tiến công và nổi dậy, với hai đòn tiến công chiến lược ở chiến trường Tây Nguyên và Huế-Đà Nẵng, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự và hệ thống chính quyền ngụy ở hai quân khu, quân đoàn địch (Quân khu 2-Quân đoàn 2 và Quân khu 1-Quân đoàn 1), giải phóng 16 tỉnh, 5 thành phố cùng nhiều quận lỵ, chi khu, yếu khu quân sự. Vùng giải phóng được mở rộng 3/4 đất đai và gần 1/2 dân số miền Nam. Nhất là, sau thắng lợi của đòn Huế-Đà Nẵng (ngày 29-3-1975), so sánh tổng quân số địch, ta là 1/1,14 (địch: 464.000, ta: 530.000); trong đó quân chủ lực là 1/1,95 (địch: 235.000, ta: 457.873); quân địa phương là 3,2/1 (địch: 229.800, ta: 71.727)(2)... Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn đấu trí, đấu lực, cán cân lực lượng chiến lược giữa ta và địch trên chiến trường càng có sự thay đổi lớn hơn; lực lượng của địch bị giảm đi nhanh chóng, lực lượng của ta có sự phát triển rõ rệt.

Rõ ràng, cùng với thành quả thắng lợi của đòn tiến công Tây Nguyên, thắng lợi nhanh chóng và vang dội của đòn tiến công chiến lược Huế-Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, trực tiếp đập tan ý định co cụm chiến lược của địch; góp phần làm thay đổi lớn về so sánh thế và lực của ta và địch ở cả quy mô chiến lược, chiến trường, tạo ra sự nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta, mở ra một cục diện chiến lược mới chưa từng có để ta giành được những mục tiêu chiến lược lớn hơn và sớm hơn dự kiến.

Thứ ba, nghệ thuật chuyển hóa thế và lực trong đòn quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn-Gia Định, kết thúc chiến tranh.

Đến đòn quyết chiến chiến lược quyết định đánh vào sào huyệt của địch ở Sài Gòn, do ta đã sớm có phương án thời cơ và kịp thời nắm bắt thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, trong phiên họp ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị chủ trương: “Tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn-Gia Định trước mùa mưa”. Tiếp đó (ngày 30-3 và ngày 14-4), Bộ Chính trị chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh-một chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô rất lớn để kết thúc chiến tranh.

Trong đòn quyết chiến chiến lược này, thế và lực của ta trên chiến trường đã trực tiếp tác động đến việc tạo thời cơ, nắm bắt và tranh thủ thời cơ chiến dịch-chiến lược cũng như có vai trò cực kỳ quan trọng trong nghệ thuật vận dụng mưu kế quân sự của Bộ thống soái tối cao ở thời điểm cuộc chiến đi dần đến hồi kết. Nhất là, với nghệ thuật tổ chức chỉ huy đúng đắn, sáng tạo, ta đã biến lực lượng 1 thành sức mạnh 10, hoàn toàn áp đảo quân địch trên từng hướng, trong từng trận đánh then chốt ở từng thời điểm quyết định bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn tác chiến phong phú, linh hoạt; trong đó nổi lên là biện pháp cơ động, tập trung lực lượng, phương tiện, tạo ra ưu thế áp đảo chưa từng có về cả thế và lực. Đặc biệt, đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng của ta đã được kế thừa rất lớn những lợi thế do các đòn tiến công chiến lược trước đó tạo nên, cụ thể:

Về thế, trước khi bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã có một thế trận chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao-đó là thế trận của hai lực lượng, ba thứ quân, thế trận bảo đảm cho ta thực hiện hai đòn tiến công chiến lược là tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Đồng thời, bằng một loạt hoạt động quân sự của ta, trước chiến dịch ta đã tạo được thế bao vây, chia cắt Sài Gòn, lập được hành lang chiến lược nối từ hậu phương trực tiếp đến chiến trường, hành lang đó ngày càng được mở rộng và hoàn chỉnh, các lực lượng ba thứ quân của ta đã đứng chân được ở những vị trí xung yếu.

Về lực, với thắng lợi của các đòn quân sự trước chiến dịch trên toàn miền Nam, ta đã làm suy giảm lực lượng địch bằng những trận tiêu diệt lớn (địch đã bị thiệt hại tới 35% quân số, 40% cơ sở hậu cần, 40% binh khí kỹ thuật). Đồng thời, ta đã thực hiện chia cắt chiến lược giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn...

Cũng do chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược từ trước, ta đã xây dựng được các binh đoàn chủ lực mạnh nên so sánh lực lượng địch, ta lúc này đã khác trước rất lớn, với tỷ lệ áp đảo: Ta 1,7, địch 1 (với chủ lực là 3/1). Về binh khí kỹ thuật, ta đã tập trung được 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa và pháo phòng không, 1 đại đội máy bay A37, 320 xe tăng, xe thiết giáp, 1.600 xe kỹ thuật chiến đấu, hơn 10.000 xe vận tải, 60.000 tấn vật chất (15.000 tấn đạn). Về lực lượng nổi dậy, ta đã tăng cường 1.700 cán bộ cho vùng ven và nội thành, có hơn 1.200 đảng viên và 10.000 quần chúng nòng cốt, 40 "lõm chính trị" với 7.000 quần chúng làm chủ có mức độ, 400 tổ chức công khai với 25.000 người do ta nắm... Rõ ràng, cả thế và lực ta đều áp đảo địch. Từ những thuận lợi cơ bản đó, quân và dân ta đã phát huy cách đánh hiểm và tiến hành trong thời cơ rất thuận lợi, lực lượng được sử dụng tập trung, thực hiện được tiến công mạnh, tốc độ cao, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch trong thời gian rất ngắn...

Mặt khác, khi nói về việc phát triển thế và lực của ta trong các đòn tiến công chiến lược, không thể không nói đến nghệ thuật kết hợp giữa các hoạt động tiến công và nổi dậy của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển, kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, kết hợp tiến công với nổi dậy tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ trong phạm vi chiến dịch-chiến lược, tạo nên sức mạnh phi thường trong các chiến dịch và các đòn tiến công lớn trong mùa Xuân 1975, mà biểu hiện rất rõ của nó chính là việc tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực. Ở bất cứ hướng nào trong chiến dịch, đòn tiến công nào cũng đều gắn liền với nổi dậy của quần chúng trên địa bàn tác chiến, thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, cũng như sự kết hợp trên quy mô lớn cả "ba mũi giáp công", sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong tác chiến.

Như vậy, chỉ với 55 ngày đêm trực tiếp diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch trên chiến trường, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành mưu lược, trí tuệ, sáng tạo và linh hoạt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, của người chỉ huy và cơ quan chiến trường, chiến dịch, quân và dân ta đã làm nên kỳ tích lịch sử trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tiêu diệt và làm tan rã hơn 1 triệu quân chủ lực và khoảng 1,5 triệu quân thuộc lực lượng phòng vệ dân sự của địch, đập tan bộ máy chính quyền và quân ngụy Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày nay, nước ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; điều kiện và vị thế của Việt Nam đã khác rất nhiều so với trong các cuộc kháng chiến trước đây; dân tộc ta đã có thế và lực mạnh hơn để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc... Cho dù trong kỷ nguyên mới, chiến tranh có sự thay đổi cả về dạng thức, phương thức tác chiến, công nghệ chiến tranh, vũ khí, trang bị... thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 vẫn là một sự kiện lịch sử luôn có tầm vóc quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc; không chỉ có tác dụng giáo dục truyền thống và khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam mà còn là kế sách để giữ nước, là tinh hoa quân sự quý báu của Việt Nam.

Đặc biệt, những bài học kinh nghiệm quý từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược trong nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; nhất là trong định hướng xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về lực lượng, thế trận và tiềm lực, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, hiện đại; xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, thế trận phòng thủ của các địa phương vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

---------------------------

(1), (2): Dẫn theo tài liệu tổng kết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 (Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi trọn vẹn), tập 1, BTTM, 1976

Thượng tướng, PGS, TS TRẦN VIỆT KHOA, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/nghe-thuat-quan-su-vn/nghe-thuat-chuyen-hoa-the-va-luc-trong-tong-tien-cong-va-noi-day-mua-xuan-1975-1037462