Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Tình trạng khẩn cấp
Bộ Quốc phòng vừa báo cáo Chính phủ phương án khắc phục tình trạng chưa phân định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành trung ương và địa phương trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa mà đất nước, địa phương phải đối mặt trong tình trạng khẩn cấp.
Theo Bộ Quốc phòng, kể từ khi có Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp (TTKC), Việt Nam chưa từng ban bố TTKC. Ngay trong giai đoạn chống dịch Covid-19, mặc dù chưa ban bố TTKC nhưng một số biện pháp tương tự như biện pháp của TTKC được áp dụng để ứng phó với dịch. Quá trình chống dịch Covid-19 đã mang lại nhiều bài học kinh nghiệm, đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện pháp luật về TTKC như: Các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, thảm họa luôn đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, hệ thống chính sách và chế độ hiện tại chưa hoàn thiện, chưa đảm bảo thực hiện hiệu quả các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của những đối tượng này.
Về lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục trong TTKC, thời gian qua, các lực lượng chuyên trách như quân đội, công an, dân quân tự vệ, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư, tham gia vào công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, thảm họa. Tuy nhiên, chưa có quy định về thành phần, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp để các lực lượng phát huy hiệu quả trong xử lý các tình huống khẩn cấp.
Liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước về TTKC, hiện vẫn chưa phân định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành trung ương và địa phương trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa trong TTKC.
Đại tướng Nguyễn Tân Cương - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, nhằm khắc phục những bất cập trên, Bộ Quốc phòng đã xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật TTKC. Nghị định đi sâu vào chế độ, chính sách đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong TTKC; Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả trong TTKC, cơ chế phối hợp để các lực lượng phát huy hiệu quả trong xử lý các tình huống khẩn cấp.
Bộ Quốc phòng xác định lực lượng nòng cốt trong TTKC gồm: Bộ đội chủ lực, Bộ đội địa phương, Dân quân tự vệ; lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Bắc, lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Trung, lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Nam thuộc Bộ Quốc phòng; Công an nhân dân, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Lực lượng chuyên ngành tìm kiếm, cứu nạn hàng không, hàng hải, lực lượng chuyên ngành đường sắt thuộc Bộ Xây dựng; Lực lượng chuyên ngành về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, tai biến địa chất, thủy lợi; lực lượng kiểm lâm; lực lượng làm nhiệm vụ kiểm dịch động, thực vật; lực lượng thủy sản và kiểm ngư thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Lực lượng y tế; lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai; các trung tâm, trạm tìm kiếm cứu nạn...
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng quy định chi tiết về việc thành lập, nhiệm vụ của Đội ứng phó khẩn cấp, Đội công tác tuyên truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt. Trong đó, Đội ứng phó khẩn cấp do Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập từ lực lượng nòng cốt, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, được tổ chức đào tạo, huấn luyện, diễn tập để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp…
Đội tuần tra đặc biệt được thành lập từ lực lượng nòng cốt, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; căn cứ tình hình thực tế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Đội tuần tra đặc biệt từ lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương cấp xã nơi ban bố tình trạng khẩn cấp; đại diện lực lượng Công an làm Đội trưởng; Đội tuần tra đặc biệt tự giải thể khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ.
Đại tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh, trong báo cáo gửi Chính phủ, Bộ Quốc phòng cũng tính đến tình huống cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ hoạt động trong tình trạng khẩn cấp bị thiệt hại về tài sản hợp pháp do nguyên nhân trực tiếp từ việc thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì được cơ quan có thẩm quyền xem xét đền bù; thiệt hại về tài sản được đền bù.
Trong trường hợp bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm do lỗi của cơ quan có thẩm quyền hoặc do thông tin sai sự thật thì được xem xét khôi phục danh dự, nhân phẩm. Việc khôi phục danh dự, nhân phẩm được thực hiện thông qua một hoặc một số hình thức: Xin lỗi công khai bằng văn bản hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng; cải chính, đính chính thông tin sai sự thật; áp dụng các biện pháp cần thiết khác theo quy định của pháp luật để khôi phục uy tín, danh dự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân gây ra việc tổn hại danh dự, nhân phẩm phải có trách nhiệm thực hiện việc xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.












