Nghị quyết 10-NQ/TW: Đưa nguồn lực nước ngoài thành năng lực của nền kinh tế

Nghị quyết 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khi đặt mục tiêu biến nguồn lực đầu tư nước ngoài thành năng lực của nền kinh tế.

Phát huy sức mạnh cộng hưởng

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế”.

Phát biểu trên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phản ánh bước phát triển mới trong tư duy kinh tế sau bốn thập niên đổi mới. Nếu như giai đoạn đầu mở cửa, nhiệm vụ hàng đầu là thu hút vốn, công nghệ và việc làm để tạo động lực tăng trưởng, thì trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu đặt ra đã khác, từ chất lượng dòng vốn đến sức lan tỏa…

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: VGP

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: VGP

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị. Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược, tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung.

Trước đây, mỗi khu vực kinh tế thường được nhìn nhận với những vai trò riêng biệt. Đến nay, 3 nghị quyết lớn của Bộ Chính trị được đặt trong một chỉnh thể phát triển. Nghị quyết 79-NQ/TW xác lập vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước ở những lĩnh vực then chốt; Nghị quyết 68-NQ/TW khơi thông động lực từ khu vực kinh tế tư nhân; Nghị quyết 10 mở rộng không gian phát triển bằng cách khai thác hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Khi ba khu vực này được kết nối bằng các chuỗi giá trị, hệ sinh thái công nghiệp và đổi mới sáng tạo, sức mạnh của nền kinh tế không còn là phép cộng đơn thuần của từng khu vực mà trở thành năng lực cạnh tranh tổng hợp của quốc gia.

Sự liên kết đó đã được khẳng định trong Nghị quyết số 68-NQ/TW: “Nhà nước hỗ trợ các dịch vụ tư vấn, xúc tiến thương mại để kết nối các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, khu thương mại tự do”.

Khi Nhà nước chủ động hỗ trợ tư vấn, xúc tiến thương mại và tạo không gian kết nối ngay tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, khu thương mại tự do, khoảng cách giữa hai khu vực sẽ từng bước được thu hẹp. Đây chính là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa. Giá trị lớn nhất của FDI vì thế không chỉ nằm ở dòng vốn đầu tư, mà còn ở khả năng lan tỏa công nghệ và năng lực cạnh tranh sang khu vực kinh tế trong nước.

Bước chuyển mạnh mẽ

Bước chuyển này được thể hiện xuyên suốt từ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cho đến các nhóm nhiệm vụ và giải pháp. Nghị quyết 10-NQ/TW xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là nguồn bổ sung vốn trung và dài hạn, mà còn phải trở thành kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế.

Điểm đột phá đầu tiên là thay đổi tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư. Nghị quyết yêu cầu lấy hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng, đổi mới sáng tạo và khả năng lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu; đồng thời chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang cơ chế hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.

Việt Nam sẽ không cạnh tranh bằng ưu đãi đất đai, thuế hay chi phí lao động thấp, mà cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường đầu tư minh bạch và khả năng đồng hành lâu dài với nhà đầu tư.

Điểm đột phá thứ hai, phát triển hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Nội dung này được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xác định là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết 10-NQ/TW. Không chỉ mời gọi các tập đoàn đa quốc gia, các bộ, ngành và địa phương còn phải nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Ngược lại, doanh nghiệp FDI cũng phải công bố nhu cầu mua sắm, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyển giao tri thức và đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Phát triển hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Ảnh: Cấn Dũng

Phát triển hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Ảnh: Cấn Dũng

Điểm đột phá thứ ba, xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua phát triển đồng bộ hạ tầng, nhân lực và thị trường vốn. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư chất lượng cao; thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó 75% đến từ các nền kinh tế phát triển. Đồng thời, nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50% và có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

Địa phương và doanh nghiệp cùng vào cuộc

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Mỗi bộ, ngành phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Mỗi địa phương phải xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, lợi thế, điều kiện phát triển và khả năng liên kết vùng”.

Về phía các địa phương, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước; qua đó khẳng định vai trò tiên phong của Thủ đô trong triển khai các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo Lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng, thành phố sẽ đổi mới mạnh mẽ mô hình thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao, lấy đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và giá trị gia tăng làm trọng tâm, gắn với phát triển Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế. Cụ thể, xây dựng danh mục dự án trọng điểm cần thu hút; ưu tiên thu hút các dự án thuộc các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, năng lượng sạch, logistics thông minh, dịch vụ tài chính quốc tế và kinh tế số. Đổi mới hình thức xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật Bản, EU… Ưu tiên các hình thức tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư quan tâm là tập đoàn xuyên quốc gia; nhất là các doanh nghiệp trong danh sách Fortune 500 hoặc các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.

Đồng chí Nguyễn Văn Được - Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh trình bày tham luận khẳng định: Thành phố sẽ tập trung xây dựng môi trường đầu tư đạt chuẩn quốc tế; đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách hành chính, phát triển hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao; chủ động phối hợp với các bộ, ngành để triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, bảo đảm Trung tâm tài chính quốc tế vận hành theo các chuẩn mực quốc tế nhưng phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.

Đáng chú ý, tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW là nhiều doanh nghiệp, quỹ đầu tư và tổ chức quốc tế không chỉ bày tỏ sự ủng hộ mà còn đưa ra các đề xuất cụ thể.

Đại diện Mitsubishi Corporation và Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (JCCI) đánh giá cao định hướng của Nghị quyết 10-NQ/TW trong việc thu hút FDI chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Đại diện Dragon Capital lại nhìn nhận nghị quyết như một tín hiệu mạnh mẽ đối với cộng đồng đầu tư quốc tế khi khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế và chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang thu hút chất lượng. Trong khi đó, VinaCapital nhấn mạnh các giải pháp then chốt gồm tiếp tục nâng hạng thị trường chứng khoán, nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, thúc đẩy cổ phần hóa và mở rộng các đợt IPO, đồng thời hoàn thiện hạ tầng thị trường nhằm thu hút dòng vốn dài hạn chất lượng cao. Theo VinaCapital, khi môi trường thể chế và hạ tầng được cải thiện đồng bộ, Việt Nam sẽ có cơ hội đón dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư quốc tế.

Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.

Hà Trang

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nghi-quyet-10-nq-tw-dua-nguon-luc-nuoc-ngoai-thanh-nang-luc-cua-nen-kinh-te-463562.html