Mô hình phát triển mới của Việt Nam: Chuyển từ lợi thế nhân công sang lợi thế nhân tài

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng mô hình phát triển mới đánh dấu bước chuyển từ 'lợi thế nhân công' sang 'lợi thế nhân tài', lấy khoa học - công nghệ làm nền tảng.

Sau gần 40 năm Đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã giúp Việt Nam đạt nhiều thành tựu.

Tuy nhiên, trước những thay đổi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh công nghệ toàn cầu, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được các chuyên gia đánh giá là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngày 4/6.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngày 4/6.

Định hình mô hình phát triển mới

Trả lời phóng viên Báo Điện tử VTC News, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho biết, sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng cũ cũng dần bộc lộ những giới hạn khi năng suất lao động chưa cao, giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI, trong khi công nghiệp hỗ trợ, công nghệ lõi và năng lực làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.

Muốn trở thành nước phát triển có thu nhập cao, chúng ta phải cạnh tranh bằng trí tuệ Việt Nam, công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo do Việt Nam làm chủ.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các công nghệ chiến lược đang làm thay đổi lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia, ông Đức cho rằng mô hình phát triển mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra là một bước ngoặt quan trọng.

Nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, mở rộng đầu tư và gia công thì mô hình mới hướng tới phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng lực tự chủ quốc gia.

Mô hình phát triển mới chuyển từ ’lợi thế nhân công‘ sang ’lợi thế nhân tài‘. Việt Nam không thể mãi cạnh tranh bằng lao động giá rẻ.

Muốn trở thành nước phát triển có thu nhập cao, chúng ta phải cạnh tranh bằng trí tuệ Việt Nam, công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo do Việt Nam làm chủ”, GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Theo ông Đức, trong mô hình mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu không còn chỉ là công cụ hỗ trợ phát triển mà trở thành động lực trung tâm và hạ tầng nền tảng của phát triển.

Điều đó đồng nghĩa thành công của nền kinh tế sẽ không chỉ được đo bằng quy mô GDP, mà còn bằng năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh quốc gia và sức chống chịu trước các biến động toàn cầu.

Ở góc nhìn khác, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, cho rằng mô hình phát triển quốc gia phải được nhìn nhận một cách tổng thể, bao gồm 5 thành tố: quản trị quốc gia; phát triển kinh tế; phát triển xã hội; quản trị môi trường; đối ngoại và phòng thủ quốc gia.

Mô hình phát triển đất nước là sự mô phỏng tổng thể cách thức tổ chức, cơ chế vận hành của quốc gia nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế, xã hội và con người trong từng giai đoạn lịch sử”, GS Hoàng Văn Cường nói.

Ông Cường nhìn nhận, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển xuất phát từ cả những thay đổi sâu sắc của thế giới lẫn các đòi hỏi nội tại. Sự phát triển của AI, cạnh tranh công nghệ, yêu cầu tự chủ về dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng, cùng với những điểm nghẽn về thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và mô hình tăng trưởng trong nước đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới đồng thời cả năm thành tố của mô hình phát triển.

Có thể thấy, điểm khác biệt lớn nhất của mô hình mới không chỉ nằm ở việc lựa chọn động lực tăng trưởng, mà còn ở việc định hình lại cách thức phát triển của quốc gia. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là tăng trưởng nhanh thì nay yêu cầu đặt ra là tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ, đồng thời hướng tới phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Thể chế phải mở đường

GS.TS Hoàng Văn Cường nêu rõ, đổi mới mô hình phát triển không thể chỉ dừng ở việc lựa chọn các ngành công nghệ ưu tiên mà phải bắt đầu từ đổi mới thể chế và phương thức quản trị.

Theo ông, bộ máy Nhà nước đang được tái cơ cấu theo hướng tinh gọn, song cùng với việc phân cấp, phân quyền mạnh hơn phải xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Trung ương và địa phương, giữa các ngành và các vùng để tránh tình trạng phát triển cục bộ hoặc đứt gãy trong điều hành.

Nhà nước thay vì quản lý theo hành vi, quy trình, tuân thủ chấp hành phải chuyển sang quản lý theo mục tiêu, kết quả đầu ra.

GS.TS Hoàng Văn Cường

Quan trọng hơn, ông Cường cho rằng tư duy quản lý cũng phải thay đổi. “Từ sinh ra những quy định pháp luật để quản lý thì phải chuyển thành hành lang kiến tạo phát triển. Nhà nước thay vì quản lý theo hành vi, quy trình, tuân thủ chấp hành (nếu không tuân thủ chấp hành đúng quy định là sai) phải chuyển nó sang quản lý theo mục tiêu, kết quả đầu ra”, ông Cường nói.

GS Cường kiến nghị Nhà nước cần giảm can thiệp trực tiếp vào các hoạt động vi mô của nền kinh tế để tập trung vào vai trò kiến tạo phát triển.

Đồng quan điểm, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu được xác định là “hạ tầng nền tảng” thì cách phân bổ nguồn lực quốc gia cũng phải thay đổi căn bản.

Nếu trước đây hạ tầng được hiểu chủ yếu là đường cao tốc, sân bay, cảng biển hay khu công nghiệp thì trong giai đoạn mới, những phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, nền tảng điện toán đám mây hay cơ sở dữ liệu lớn cũng phải được coi là hạ tầng chiến lược của đất nước.

Nhà nước phải coi đầu tư cho khoa học - công nghệ và giáo dục đại học là đầu tư phát triển dài hạn, không phải là khoản chi hành chính. Một phòng thí nghiệm mạnh, một nhóm nghiên cứu xuất sắc, một trung tâm AI, một cơ sở dữ liệu quốc gia được chuẩn hóa, một nền tảng tính toán hiệu năng cao có thể tạo ra giá trị lan tỏa không kém, thậm chí lớn hơn rất nhiều so với một công trình hạ tầng vật chất đơn lẻ”, ông Đức nói.

Từ đó, ông Đức đề xuất Nhà nước cần ưu tiên đầu tư có trọng điểm cho các đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, cũng như các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, robot và năng lượng sạch.

Không chỉ thay đổi cách đầu tư, theo GS Đức, chính sách cũng cần chuyển từ quản lý bằng kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu. Việc hoạch định chính sách cần dựa trên dữ liệu lớn, phân tích dự báo và đánh giá tác động theo thời gian thực thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm như trước.

Một trong những yêu cầu quan trọng khác là tạo dựng môi trường thể chế đủ thông thoáng để đổi mới sáng tạo phát triển. GS Nguyễn Đình Đức nêu rõ, đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro. Nếu cơ chế quản lý chỉ chấp nhận thành công mà không chấp nhận thất bại thì sẽ rất khó hình thành những công nghệ hay sản phẩm mới.

Ông Đức cho rằng, hiện nay vẫn còn nhiều rào cản từ tư duy quản lý nặng về tiền kiểm, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, trong khi hoạt động nghiên cứu khoa học luôn cần thời gian và khả năng chấp nhận rủi ro. Bên cạnh đó, khung pháp lý về tài sản trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, góp vốn bằng tài sản trí tuệ hay cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

Muốn các cơ chế như vốn mồi, đồng đầu tư hay sandbox công nghệ thực sự phát huy hiệu quả thì phải có hành lang pháp lý rõ ràng, cơ chế hậu kiểm phù hợp và chính sách bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung”, GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm khu trưng bày sản phẩm khoa học - công nghệ tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 16/5.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm khu trưng bày sản phẩm khoa học - công nghệ tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 16/5.

Thành công không chỉ được đo bằng GDP

Một trong những thay đổi lớn nhất của mô hình phát triển mới là cách nhìn nhận về thành công của một quốc gia. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhận định, các chỉ tiêu truyền thống như tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người hay năng suất lao động vẫn cần thiết nhưng không còn đủ để phản ánh chất lượng phát triển trong kỷ nguyên mới.

Mô hình phát triển mới phải được đánh giá bằng một hệ chỉ số toàn diện hơn, phản ánh được năng lực sáng tạo, năng lực tự chủ, chất lượng con người, chất lượng thể chế và khả năng chống chịu của quốc gia” ông Đức nêu quan điểm.

Trước hết là năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những chỉ số như tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), số bằng sáng chế, số công nghệ được thương mại hóa, số doanh nghiệp công nghệ hình thành từ các trường đại học và viện nghiên cứu hay số sản phẩm “Made in Vietnam” có khả năng cạnh tranh quốc tế sẽ phản ánh rõ hơn sức mạnh thực chất của nền kinh tế.

Bên cạnh đó là chất lượng nguồn nhân lực. Theo GS Nguyễn Đình Đức, Việt Nam cần xây dựng đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và nhà khoa học trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot, vật liệu mới, công nghệ sinh học và năng lượng mới. Đây mới là nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh trong dài hạn.

Một tiêu chí quan trọng khác là năng lực quản trị dữ liệu và chuyển đổi số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, mức độ ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị và bảo đảm an toàn dữ liệu sẽ trở thành những chỉ số phản ánh chất lượng điều hành của nền hành chính hiện đại.

Mục tiêu của mô hình phát triển mới không chỉ là tăng trưởng nhanh, quốc gia giàu mạnh hùng cường, mà còn phải công bằng, thịnh vượng, bền vững và nhân văn.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Ở tầm cao hơn, mô hình phát triển mới còn hướng tới nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. “Đó là mức độ làm chủ công nghệ lõi; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chiến lược; năng lực bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh chuỗi cung ứng; khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các cú sốc địa chính trị”, ông Đức phân tích.

Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của mô hình phát triển mới không chỉ là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn.

Mục tiêu phải là một quốc gia phát triển theo hướng thịnh vượng, công bằng, bền vững và nhân văn. Vì vậy, cùng với các chỉ số kinh tế, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng giáo dục, y tế, môi trường sống, cơ hội phát triển của người dân và mức độ thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền”, ông Nguyễn Đình Đức nói.

Vị chuyên gia cũng lưu ý, hệ thống chỉ tiêu không nên chỉ phục vụ báo cáo mà phải trở thành công cụ quản trị quốc gia. Khi đo lường đúng, Nhà nước mới có thể hoạch định chính sách đúng và điều hành hiệu quả.

Có thể thấy, điểm cốt lõi của mô hình phát triển mới không nằm ở việc bổ sung thêm một động lực tăng trưởng, mà là thay đổi cách tiếp cận về phát triển quốc gia. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn giữ vai trò hỗ trợ, mà trở thành nền tảng để định hình phương thức quản trị, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.

Điều đó cũng đồng nghĩa, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi lợi thế về chi phí hay nguồn lực sẵn có, mà bởi khả năng làm chủ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và hiệu quả của thể chế kiến tạo phát triển.

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ mở ra một định hướng phát triển mới, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới đồng bộ về tư duy, thể chế và cách huy động nguồn lực.

Khi khoa học, công nghệ thực sự trở thành hạ tầng của phát triển, dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược và con người trở thành trung tâm của mọi chính sách, mô hình phát triển mới mới có thể chuyển hóa thành động lực đưa Việt Nam tiến nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Anh Văn

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/mo-hinh-phat-trien-moi-cua-viet-nam-chuyen-tu-loi-the-nhan-cong-sang-loi-the-nhan-tai-ar1025976.html