Nghị quyết 20 mở không gian phát triển mới từ biển
Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mở ra giai đoạn phát triển mới, trong đó, biển được xác định là không gian phát triển chiến lược.
Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có trao đổi với PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam về nội dung này.
Thưa ông, Nghị quyết số 20 đặt ra mục tiêu xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Vậy, đâu là những cơ hội và điều kiện mới để hiện thực hóa mục tiêu này trong giai đoạn hiện nay?
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam và ban hành Nghị quyết về xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây không chỉ là sự kế thừa một chiến lược lớn của Đảng, mà còn mở ra giai đoạn phát triển mới, trong đó biển được xác định là không gian phát triển chiến lược, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.

Theo PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy quản trị biển, hoàn thiện thể chế, phát huy khoa học công nghệ và tổ chức lại không gian phát triển, qua đó biến lợi thế biển thành động lực tăng trưởng.
Việt Nam có lợi thế nổi trội để phát triển kinh tế biển với vùng biển rộng gấp khoảng ba lần diện tích lãnh thổ đất liền, hơn 3.260 km bờ biển và hơn 3.000 đảo lớn nhỏ. Cùng với vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, biển Việt Nam vừa là không gian sinh tồn, vừa là cửa ngõ kết nối với các chuỗi cung ứng và dòng chảy thương mại toàn cầu. Đây là nền tảng để phát triển các ngành kinh tế biển như cảng biển, logistics, du lịch, thủy sản, năng lượng biển tái tạo, năng lượng gió biển, nhất là năng lượng gió ngoài khơi và các ngành kinh tế biển xanh mới khác.
Thời cơ ấy càng trở nên rõ nét hơn sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính ba cấp, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Hiện nay, cả nước có 21/34 tỉnh, thành phố có biển, tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên thông tự nhiên và liên kết vùng giữa miền núi, trung du với vùng ven biển, giữa nguồn nguyên liệu với cảng biển, logistics và các trung tâm kinh tế biển.
Đây không đơn thuần là thay đổi địa giới hành chính mà là bước chuẩn bị quan trọng để hình thành các cực tăng trưởng mới, phát huy lợi thế liên kết “núi - rừng - biển”, tạo cơ hội để quản trị phát triển không gian tạo động lực cho phát triển bứt phá nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, lợi thế địa lý sẽ không tự chuyển hóa thành sức mạnh phát triển nếu thiếu một mô hình quản trị phù hợp. Thời cơ đang mở ra rất lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và làm chủ khoa học công nghệ để đưa Việt Nam thực sự vươn ra biển lớn, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.
Để biến lợi thế về biển thành động lực phát triển, Việt Nam cần đổi mới tư duy quản trị và tổ chức không gian biển như thế nào, thưa ông?
Bước đột phá quan trọng nhất trong giai đoạn tới không nằm ở việc khai thác thêm bao nhiêu tài nguyên, mà ở việc chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị tổng hợp không gian biển; từ phát triển theo ngành sang phát triển gắn với quản trị không gian biển dựa vào hệ sinh thái và cơ chế phối hợp liên ngành; từ dựa vào khai thác tài nguyên vật chất sang dựa vào thể chế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Biển là không gian chỉnh thể, liên thông và thống nhất. Một vùng biển có thể đồng thời là tuyến hàng hải quốc tế, ngư trường khai thác, tiềm năng nuôi biển, vùng phát triển điện gió ngoài khơi, không gian bảo tồn đa dạng sinh học, dầu khí trong lòng đất dưới đáy biển và khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp và thống nhất không gian biển.
Đối với Việt Nam, yêu cầu trước tiên là tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển biển theo hướng đồng bộ, thống nhất và kiến tạo. Trước hết, cần đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác năng lượng tái tạo, carbon xanh và kinh tế bảo tồn.

Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Ảnh: TTXVN
Thể chế không chỉ có chức năng quản lý mà phải trở thành động lực phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút các nhà đầu tư chiến lược và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cư dân biển đảo trong phát triển và quản trị không gian biển.
Mọi hoạt động kinh tế phải được đặt trong cùng một không gian phát triển, trong mối quan hệ liên ngành, được phân vùng chức năng rõ ràng, có cơ chế điều phối liên ngành và đánh giá tác động tổng hợp ngay từ khâu quy hoạch không gian biển.
Khi đó, một vùng biển không còn chỉ phục vụ một mục tiêu, một ngành riêng lẻ mà đồng thời phát triển đa ngành, đa mục tiêu, như năng lượng tái tạo, nuôi biển, du lịch sinh thái, cảng - hàng hải, y - dược biển và bảo tồn thiên nhiên biển, trên cơ sở hài hòa và tối ưu hóa lợi ích tổng thể của các ngành.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Theo ông, thể chế, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực cần được phát huy ra sao để tạo động lực cho các ngành kinh tế biển mới?
Việt Nam phải ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ”. Song song với thể chế, khoa học, công nghệ phải trở thành trụ đỡ cho mọi hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý biển.
Biển xa, biển sâu là không gian phát triển mới của Việt Nam, nhưng cũng là nơi đòi hỏi trình độ khoa học, khả năng can thiệp của công nghệ và suất đầu tư cao. Không thể quản lý hiệu quả vùng biển rộng lớn bằng những phương thức và cách tổ chức ra biển thiếu gắn kết, thiếu liên thông và không phối hợp để vượt qua những rủi ro thiên tai và nhân tai trên biển.
Chúng ta cần đầu tư mạnh và cơ cấu lại công tác điều tra cơ bản biển; xây dựng và quản lý thống nhất, hiệu quả cơ sở dữ liệu biển quốc gia; phát triển hệ thống quan trắc biển tự động. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ viễn thám và mô hình số để giám sát tài nguyên, môi trường, dự báo thiên tai, quản lý tàu thuyền và hỗ trợ ra quyết định.
Đầu tư cho công nghệ không chỉ nhằm khai thác tài nguyên hiệu quả hơn mà còn để bảo vệ vốn tự nhiên của biển. Công nghệ sẽ giúp theo dõi diễn biến các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn; giám sát ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương; tối ưu hóa hoạt động nuôi biển; giảm phát thải trong vận tải biển; nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Đây là điều kiện để Việt Nam chuyển từ mô hình “kinh tế biển nâu” sang “kinh tế biển xanh”, trong đó tăng trưởng kinh tế gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững tài nguyên biển, ven biển.
Một trụ cột khác cần được quan tâm là phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Không thể xây dựng quốc gia biển mạnh nếu thiếu đội ngũ chuyên gia về công nghệ biển, hải dương học, quy hoạch không gian biển, năng lượng ngoài khơi, luật biển quốc tế, kinh tế biển và quản trị đại dương.
Cùng với đó là việc hình thành các Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ biển hiện đại, tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để nhanh chóng chuyển giao các thành tựu khoa học vào thực tiễn sản xuất và quản lý, gắn với đào tạo kỹ năng cho nguồn nhân lực biển.
Từ những định hướng của Nghị quyết số 20-NQ/TW, Việt Nam cần làm gì để chuyển từ khai thác tiềm năng biển sang tạo ra sức mạnh và giá trị thực sự từ biển, qua đó hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, thưa ông?
Phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới không chỉ là câu chuyện khai thác thêm một nguồn tài nguyên hay mở rộng thêm một ngành kinh tế. Đó là quá trình kiến tạo mô hình kinh tế mới gắn với triết lý phát triển không gian biển mới.
Trong đó, biển được quản trị như một không gian thống nhất, liên thông giữa kinh tế và an ninh, chủ quyền; thể chế trở thành động lực của đổi mới công nghệ và phát triển; khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của tăng trưởng; con người là trung tâm của mọi chính sách; còn bảo tồn thiên nhiên được xem là đầu tư cho tương lai bền vững.
Trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển sau sáp nhập đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng địa giới của các tỉnh, thành phố có biển mà phải biến sự thay đổi đó thành lợi thế phát triển thực sự.
Các địa phương cần xây dựng quy hoạch tích hợp trên nền tảng liên kết “núi - rừng - biển”, hình thành các hành lang logistics, trung tâm cảng biển, khu công nghiệp xanh, đô thị biển và chuỗi giá trị kinh tế biển gắn với lợi thế vùng miền.
Chỉ khi phát huy được sức mạnh tổng hợp của không gian lãnh thổ mới, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính mới thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế biển trong dài hạn.
