Nghị quyết 57-NQ/TW: Chuyển dịch động lực, nâng chất lượng tăng trưởng
Hiện, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần thu hẹp, đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Dự án điện gió ven bờ của tỉnh Cà Mau. Ảnh: Tuấn Phi - TTXVN
Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính cho biết, giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045. Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 cho thấy kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, song mô hình tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên; hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa cao, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa đạt kỳ vọng. Trong khi đó, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần thu hẹp, đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cụ thể, trong Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có nhấn mạnh đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Việt Nam cần đồng thời đẩy mạnh hấp thụ công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo.
“Việc khai thác đồng bộ các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, cải cách thể chế kinh tế, liên kết vùng và chuyển đổi xanh có thể đóng góp thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP mỗi năm. Điều này đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang nâng cao hiệu quả sử dụng và tạo lập các động lực tăng trưởng mới”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Dự án diện gió Tân Thuận ngoài khơi tỉnh Cà Mau. Ảnh: Tuấn Phi - TTXVN
Còn theo TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho rằng tăng trưởng cần được đặt trong mối quan hệ đồng bộ với phát triển bền vững, chính sách tiền tệ, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Theo đó, cần lồng ghép các mục tiêu phát triển để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa nâng cao chất lượng và khả năng lan tỏa của tăng trưởng.
TS. Võ Trí Thành cũng nhấn mạnh yêu cầu huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. Trong tổng nguồn lực đầu tư, nguồn vốn Nhà nước hiện chiếm khoảng 30%, trong khi khoảng 70% được huy động từ các nguồn bên ngoài. Vì vậy, huy động nguồn lực xã hội và nguồn vốn quốc tế tiếp tục giữ vai trò quan trọng, song dòng vốn FDI cần được định hướng theo hướng xanh hơn, chất lượng cao hơn, tăng cường chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực phục vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới.
Cùng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Bá, chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, cùng với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, Việt Nam cần chuyển sang mô hình phát triển mới để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển. Theo đó, mô hình tăng trưởng mới cần dựa trên các động lực cốt lõi gồm nâng cao năng suất, phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời làm mới và phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống.

