Nghị quyết 57- NQ/TW: Nâng cao hiệu quả Tài khoản vệ tinh du lịch

Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) được xây dựng nhằm kết nối dữ liệu chi tiêu của khách du lịch với hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế, qua đó đo lường đóng góp du lịch vào GDP.

Du khách lưu lại khoảnh khắc bên đoàn tàu du lịch “Hành trình về với xứ Trà”. Anh: Hà Trần

Du khách lưu lại khoảnh khắc bên đoàn tàu du lịch “Hành trình về với xứ Trà”. Anh: Hà Trần

Kinh nghiệm vận hành Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) và phương pháp đo lường đóng góp kinh tế của công nghiệp văn hóa số vừa được đại diện Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam được ngành du lịch  chia sẻ mới đây tại Hội thảo “Mô hình kinh tế, thương mại hóa tài sản số, sở hữu trí tuệ và huy động nguồn lực”, do UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức, nhằm gợi mở các giải pháp quản lý, khai thác hiệu quả tài sản số trên địa phương.

Theo Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, tài khoản vệ tinh du lịch (Tourism Satellite Account – TSA) là hệ thống chỉ tiêu và phương pháp luận thống kê các giá trị về hoạt động du lịch của quốc gia, vùng lãnh thổ. Tài khoản vệ tinh du lịch ra đời do nhu cầu đánh giá vai trò của hoạt động du lịch trong các hoạt động kinh tế, sự cần thiết có được công cụ đo lường thống nhất và toàn diện bảo đảm được tính so sánh với các ngành kinh tế khác.

Ông Phạm Văn Thủy nhấn mạnh, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực như vận tải, lưu trú, ăn uống, thương mại, văn hóa và thể thao. Do giá trị kinh tế phân tán trong nhiều ngành, việc đánh giá chính xác mức đóng góp đòi hỏi phương pháp thống kê phù hợp, có khả năng tổng hợp và đối chiếu dữ liệu liên ngành. Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) được xây dựng nhằm kết nối dữ liệu chi tiêu của khách du lịch với hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế, qua đó đo lường đóng góp trực tiếp của du lịch vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) dựa trên giá trị tăng thêm từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho du khách.

Từ năm 2009, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu phương pháp luận và từng bước xây dựng hệ thống thống kê du lịch theo mô hình TSA. Đến nay, ngành du lịch đã biên soạn 7 trong tổng số 10 bảng TSA, gồm các bảng 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 10. Năm 2026, Cục tiếp tục triển khai điều tra khách du lịch, thu thập dữ liệu từ các cơ sở kinh doanh và địa phương nhằm củng cố nguồn thông tin phục vụ công tác thống kê, từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu. Việc vận hành phần mềm báo cáo thống kê du lịch tại địa chỉ thongke.tourism.vn và nền tảng “Quản trị và kinh doanh du lịch” đã tạo điều kiện tiếp nhận, tổng hợp dữ liệu trên môi trường số. Tuy nhiên, quá trình triển khai TSA vẫn gặp khó khăn do việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê tại một số địa phương chưa được chú trọng, dữ liệu còn phân tán và nguồn lực thực hiện hạn chế.

Từ thực tiễn triển khai TSA, ông Phạm Văn Thủy nhấn mạnh ba bài học kinh nghiệm đó là: tăng cường phối hợp liên ngành và phát huy vai trò chủ động của cơ quan quản lý du lịch; xây dựng TSA theo lộ trình phù hợp, hướng tới cập nhật thường xuyên; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số gắn với chuẩn hóa, kết nối và nâng cao chất lượng dữ liệu thống kê.

Đối với Quảng Trị, dự thảo Đề án Chuyển đổi số và Phát triển Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đo lường tỷ trọng công nghiệp văn hóa số trong Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và mức đóng góp của Đề án vào tăng trưởng kinh tế hằng năm.

Để thực hiện hiệu quả, tỉnh  Quảng Trị tập trung vào ba nội dung là xác định rõ phạm vi các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ thuộc công nghiệp văn hóa số phù hợp với hệ thống phân loại thống kê hiện hành; nghiên cứu phương pháp đo lường phù hợp với điều kiện dữ liệu và hệ thống thống kê quốc gia (trong đó có thể xem xét cách tiếp cận tài khoản vệ tinh); phân biệt rõ đóng góp của các hoạt động kinh tế với tác động riêng của Đề án. Trước mắt, Quảng Trị nên ưu tiên xây dựng hệ thống chỉ tiêu có thể thu thập, theo dõi và kiểm chứng, từng bước hoàn thiện phương pháp đánh giá tác động kinh tế khi đáp ứng đủ điều kiện về dữ liệu và năng lực thực hiện.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Xuân Tân cho biết, trong bối cảnh chuyển đổi số mở ra những động lực phát triển mới, Quảng Trị xác định bảo tồn di sản phải gắn liền với phát huy giá trị, còn chuyển đổi số cần tạo ra chuyển biến thực chất trong quản lý và khai thác. Đây là đề án có phạm vi rộng, mang tính liên ngành, đòi hỏi cơ sở khoa học vững chắc và giải pháp triển khai khả thi. Tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các đơn vị liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến tham vấn, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đề án theo tiến độ.

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị Lê Minh Tuấn cho biết, tỉnh đã định hướng hình thành Kho tài sản số văn hóa, thể thao và du lịch. Tuy nhiên, việc chuyển dữ liệu số hóa thành tài sản khai thác hiệu quả vẫn đặt ra nhiều thách thức về ghi nhận tài sản vô hình trong kế toán, định giá, cấp quyền sử dụng, bảo vệ sở hữu trí tuệ và huy động nguồn lực. Quảng Trị nhấn mạnh phát triển kinh tế từ tài sản số văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản bằng mọi giá mà phải bảo đảm giữ gìn giá trị nguyên gốc và tạo điều kiện cho di sản đóng góp bền vững vào phát triển kinh tế - xã hội.

Hằng Trần/Bnews/Vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nghi-quyet-57-nq-tw-nang-cao-hieu-qua-tai-khoan-ve-tinh-du-lich/440961.html