Nghị quyết 71-NQ/TW tháo gỡ 'nút thắt' nguồn lực

Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt ra tầm nhìn, mục tiêu và các giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là với giáo dục đại học.

Thí sinh dự thi đánh giá năng lực do Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức năm 2025. Ảnh: HCMUT

Thí sinh dự thi đánh giá năng lực do Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức năm 2025. Ảnh: HCMUT

Chủ trương dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách cho giáo dục đại học theo Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là bước đột phá tháo gỡ “nút thắt” nguồn lực, mở hướng đổi mới toàn diện cho giáo dục đại học Việt Nam.

Để làm rõ hơn, Báo Giáo dục và Thời đại trao đổi với TS Lê Văn Út - Trợ lý Chủ tịch Hội đồng trường, Trưởng Nhóm Nghiên cứu SARAP (Trường ĐH Văn Lang, TPHCM).

Giải bài toán đầu tư cho giáo dục đại học

TS Lê Văn Út. Ảnh: NVCC

TS Lê Văn Út đặc biệt nhấn mạnh vào khả năng đo lường và đánh giá của hệ thống giáo dục đại học. Theo ông, hệ thống đánh giá cần độc lập, định kỳ; dữ liệu học thuật, dữ liệu đầu ra (việc làm của sinh viên, đóng góp nghiên cứu, đổi mới sáng tạo) đáng tin cậy. Cần tránh hiện trường “đầu voi, đuôi chuột”, văn bản báo cáo hay thông tin truyền thông không khớp với kết quả thực tế. Hiện nay, một số cơ sở giáo dục đại học, như Trường Đại học Văn Lang, có bảng xếp hạng chuyên gia hay bảng xếp hạng tạp chí quốc tế để có thể đo lường và đánh giá năng lực các chuyên gia, sản phẩm nghiên cứu một cách chính xác nhất.

- Mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam trong thời gian qua được đánh giá là còn quá thấp so với yêu cầu phát triển và so với các nước trong khu vực, trên thế giới. Ông đánh giá thực trạng này như thế nào?

+ Trong nhiều năm qua, tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đại học của Việt Nam vẫn ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,23-0,27% GDP (World Bank), thấp hơn đáng kể so với mức 0,8-1,1% GDP của nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Hàn Quốc (World Bank, OECD). Đáng lưu ý là GDP bình quân đầu người của các quốc gia này cũng cao hơn Việt Nam nhiều lần, nên giá trị tuyệt đối đầu tư cho giáo dục đại học tính theo đầu người càng chênh lệch lớn hơn.

Nguồn lực đầu tư hạn chế khiến các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tiệm cận khu vực và thế giới; phát triển nghiên cứu khoa học theo hướng chuyển giao để xây dựng nội lực thực chất; đổi mới cơ sở vật chất hiện đại và thu hút nhân tài.

Thực trạng này cho thấy cần sớm có chính sách tăng đầu tư cho giáo dục đại học, đồng thời đa dạng hóa nguồn tài chính, hướng tới mô hình chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, người học và khu vực tư nhân, tương tự như các quốc gia có hệ thống giáo dục đại học phát triển.

- Đầu tư cho giáo dục đại học quá thấp dẫn đến những hệ lụy gì, thưa ông?

+Thứ nhất, nguồn lực tài chính hạn chế, đầu tư chưa bền vững. Ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đại học còn nhỏ (so với yêu cầu và so với các nước tương đồng); đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ hay khoa học tự nhiên.

Thứ hai, chất lượng và hiệu quả chưa cao, dẫn đến việc phát triển manh mún, thiếu đồng bộ. Nhiều trường đại học, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, chưa đạt chuẩn theo quy định; chất lượng đầu vào, đầu ra chưa được kiểm soát chặt chẽ; mạng lưới cơ sở đào tạo thiếu tinh gọn, có sự trùng lặp.

Thứ ba, đội ngũ giảng viên và chất lượng đào tạo, nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Thực trạng thiếu giảng viên thực sự ưu tú vẫn phổ biến; nhiều giảng viên “chân trong, chân ngoài”; khó thu hút nhân tài quốc tế; công bố khoa học quốc tế còn thấp cả về số lượng và chất lượng; cơ chế hỗ trợ nghiên cứu chưa mạnh; chưa có quyết tâm cao trong bảo đảm liêm chính nghiên cứu - rất hiếm cơ sở có đơn vị độc lập đảm bảo liêm chính nghiên cứu. Chương trình và nội dung đào tạo còn lạc hậu so với yêu cầu đổi mới, thực tiễn và nhu cầu quốc tế.

Thứ tư, bất bình đẳng vùng miền, cơ hội tiếp cận không đồng đều. Vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có ít cơ sở giáo dục đạt chuẩn, trang thiết bị yếu kém, học phí và chi phí học tập/đời sống sinh viên vẫn là rào cản; sinh viên từ các vùng khó khăn khó tiếp cận đào tạo chất lượng cao.

Thứ năm, cơ chế chính sách và quản trị chưa thật sự đột phá. Mặc dù nhiều cơ sở giáo dục đại học đã có thay đổi tích cực trong công tác quản trị, song vẫn tồn tại hiện tượng quản trị hành chính truyền thống, thiếu tự chủ, thiếu trách nhiệm giải trình. Cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa hiệu quả ở không ít cơ sở.

 Khu thực hành của Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn Lang. Ảnh: VLU

Khu thực hành của Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn Lang. Ảnh: VLU

Cú hích lớn cho giáo dục đại học

- Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị sẽ tạo ra sự chuyển biến như thế nào để khắc phục khoảng trống đầu tư cho giáo dục đại học?

+ Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt ra tầm nhìn, mục tiêu và các giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là với giáo dục đại học.

Thứ nhất, đó là cam kết ngân sách: chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách, trong đó giáo dục đại học chiếm ít nhất 3% tổng chi ngân sách giáo dục.

Thứ hai, phát triển mạng lưới trường đại học: Sắp xếp, sáp nhập hoặc giải thể các cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn; mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục đại học tư thục; đề cao lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ; phát triển các cơ sở có đẳng cấp cao, tiệm cận khu vực và thế giới.

Thứ ba, đó là chủ trương chuẩn hóa chất lượng giáo dục đại học: Trước đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư về chuẩn cơ sở giáo dục đại học (6 tiêu chuẩn, 20 tiêu chí) để đánh giá, giám sát. Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 có lộ trình yêu cầu các trường đạt chuẩn nếu không đạt, từ năm 2028 có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc giải thể trước năm 2030.

Thứ tư, cơ chế thu hút nguồn lực ngoài ngân sách: Huy động nguồn lực xã hội, ưu đãi thuế, đất đai, tín dụng; thu hút giảng viên xuất sắc trong và ngoài nước; áp dụng cơ chế đặc thù, đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, quốc tế hóa và nâng cao thứ hạng của giáo dục đại học: Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 8 trường đại học nằm trong top 200 châu Á và một trường lọt top 100 thế giới ở một số lĩnh vực; đến năm 2035 có ít nhất 2 trường trong top 100 thế giới, và đến năm 2045 là ít nhất 5 trường. Đồng thời, tăng công bố khoa học quốc tế, thu hút giảng viên nước ngoài.

Thực thi tốt Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ mang lại những chuyển biến tích cực, khắc phục các khoảng trống nêu trên.

Việc tăng chi ngân sách cho giáo dục đại học sẽ giúp hệ thống ổn định nguồn lực, tránh tình trạng “hụt hơi” tài chính. Cơ sở vật chất và trang thiết bị lạc hậu sẽ được đầu tư hiện đại hóa, ưu tiên cho các trường kỹ thuật - công nghệ; phát triển thư viện số, phòng thí nghiệm hiện đại.

Chất lượng đào tạo và nghiên cứu sẽ được nâng chuẩn; thu hút giảng viên giỏi trong và ngoài nước; áp dụng chính sách ưu đãi và tăng trách nhiệm giải trình. Phân hóa vùng miền sẽ được thu hẹp nhờ mở rộng mạng lưới trường tư, phân hiệu; khuyến khích đào tạo ngành khó, hỗ trợ đặc biệt cho vùng khó khăn; thu hút nhân lực về khu vực này.

Vấn đề quản trị, cơ chế tự chủ chưa hiệu quả sẽ được khắc phục thông qua việc áp dụng mạnh cơ chế tự chủ (tài chính, quản trị), đổi mới quản trị, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại; khuyến khích sáng tạo, trách nhiệm cao hơn trong các trường đại học; đảm bảo trách nhiệm giải trình.

- Với định hướng coi giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, việc phân bổ ngân sách dựa trên sứ mệnh, chất lượng và hiệu quả của từng cơ sở đào tạo theo Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ tạo ra những thay đổi cụ thể nào?

+ Với chiến lược phân bổ ngân sách dựa trên sứ mạng, chất lượng và hiệu quả, chắc chắn Nghị quyết 71 sẽ tạo ra những thay đổi tích cực cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Thứ nhất, ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các cơ sở có sứ mạng quốc gia, trình độ cao, trọng điểm. Các trường đại học vừa thực hiện đào tạo, vừa có nhiệm vụ nghiên cứu mạnh, sáng tạo công nghệ cao, hợp tác quốc tế, chuyển giao các sản phẩm nghiên cứu mang lại giá trị lớn, ... sẽ được Nhà nước ưu tiên hơn trong phân bổ ngân sách. Điều này sẽ tạo động lực cho các trường phấn đấu nâng cao giá trị thực và danh tiếng thực.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu một cách thực chất. Vì ngân sách được phân theo chất lượng và hiệu quả, các trường sẽ phải đầu tư mạnh hơn vào đội ngũ giảng viên có trình độ cao, trang thiết bị hiện đại, phòng thí nghiệm, thư viện, hạ tầng công nghệ hỗ trợ dạy - học và nghiên cứu.

Trường nào không đạt các tiêu chí chất lượng đầu ra (số lượng và chất lượng công bố khoa học có đẳng cấp và được chuyển giao mang lại giá trị cụ thể, sự gắn kết với doanh nghiệp, tính ứng dụng, khả năng quốc tế hóa, chuẩn mực quốc tế…) sẽ bị đánh giá thấp, bị giảm ưu tiên ngân sách hoặc phải cải thiện để tiếp tục được tài trợ nhiều hơn.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng ngân sách tốt hơn, tránh lãng phí. Trường đại học sẽ phải chịu trách nhiệm rõ ràng về đầu ra (sinh viên tốt nghiệp có việc làm, ứng dụng thực tiễn, nghiên cứu có chất lượng), đánh giá định kỳ để làm cơ sở phân bổ ngân sách tiếp theo.

 Tân sinh viên khóa 2025 Trường Đại học Luật TPHCM trong một giờ học. Ảnh: ULAW

Tân sinh viên khóa 2025 Trường Đại học Luật TPHCM trong một giờ học. Ảnh: ULAW

Sự minh bạch trong ngân sách, trong việc sử dụng đầu tư, kiểm soát chi tiêu sẽ được tăng cường, để đảm bảo tiền ngân sách thực sự đi vào những nơi có hiệu quả cao nhất. Điều này cũng giúp thu hút nguồn lực ngoài ngân sách (tư nhân, doanh nghiệp) khi thấy cơ chế công bằng và hiệu quả.

Thứ tư, tạo động lực đổi mới, cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học. Khi ngân sách không còn được phân đều hay duy trì theo số lượng chỉ tiêu, mà theo sứ mạng, chất lượng, hiệu quả, các trường sẽ có động lực để sáng tạo, nâng chuẩn đào tạo, nghiên cứu, tìm hướng hợp tác quốc tế, liên kết với doanh nghiệp.

Các trường có thể xác định rõ hơn sứ mạng riêng của mình (chuyên sâu, nghiên cứu, ứng dụng, y tế, kỹ thuật, nông nghiệp…), tránh trùng lắp, lãng phí nguồn lực, hướng tới hệ thống trường đại học phân tầng, có vai trò khác nhau trong mạng lưới quốc gia

Thứ năm, tăng tính chủ động và tự chủ của các trường. Cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên chất lượng, sứ mạng sẽ đi kèm với cơ chế “tự chủ mạnh hơn”, trường có quyền chủ động quyết định chuyên môn, nhân sự, tài chính nội bộ, hợp tác quốc tế, miễn là đáp ứng tiêu chí hiệu quả. Trường đạt chất lượng cao sẽ được trao quyền lớn hơn trong việc huy động nguồn lực bên ngoài và sử dụng linh hoạt hơn các khoản ngân sách được giao.

Thứ sáu, hỗ trợ phân hóa vùng miền, giảm khoảng cách phát triển. Các trường ở vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa nếu có sứ mạng đặc biệt (ví dụ đào tạo nguồn nhân lực cho vùng miền) sẽ được phân bổ ngân sách căn cứ sứ mạng; có ưu đãi đặc thù - giúp giảm tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận đào tạo đại học chất lượng. Việc hỗ trợ đất đai, miễn giảm thuê đất và các ưu đãi khác sẽ giúp trường địa phương có điều kiện tốt hơn để cải thiện cơ sở vật chất.

Cuối cùng, đó là sự kết nối chặt giữa đào tạo - nghiên cứu - thực tiễn. Nguồn ngân sách được đặt hàng theo kết quả đầu ra - có thể là công trình nghiên cứu, sáng chế, ứng dụng trong sản xuất, dịch vụ, chuyển giao công nghệ... Điều này giúp các trường sẽ mạnh hơn trong việc định hướng đào tạo theo nhu cầu xã hội, doanh nghiệp; tăng tính ứng dụng thực tế.

- Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Để Nghị quyết 71-NQ/TW thực sự phát huy hiệu quả, chiến lược quản trị đại học trong kỷ nguyên mới cần đổi mới toàn diện, tránh hình thức và chậm trễ. Trước hết, phải xây dựng tiêu chí rõ ràng, minh bạch về sứ mệnh, chất lượng, hiệu quả và có cơ chế đánh giá độc lập, tin cậy.

Cùng với đó là khả năng đo lường và đánh giá. Phân bổ ngân sách phải linh hoạt, công bằng, có chính sách đặc thù cho vùng khó khăn, tránh “chạy điểm” hay ưu tiên lợi thế sẵn có. Tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình, trường được trao quyền phải chịu trách nhiệm về kết quả. Đồng thời, cần nâng cao năng lực đội ngũ quản trị, giảng viên và huy động nguồn lực xã hội - doanh nghiệp - quốc tế thông qua chính sách ưu đãi tạo động lực đầu tư bền vững cho giáo dục đại học. - TS Lê Văn Út

Mạnh Tùng (thực hiện)

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/nghi-quyet-71-nqtw-thao-go-nut-that-nguon-luc-post758475.html