Nghị quyết 79: Định vị vai trò chủ động, tiên phong của kinh tế Nhà nước
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước đánh dấu một bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy và phương thức phát triển khu vực kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 79: Định vị vai trò chủ động, tiên phong của kinh tế Nhà nước. Ảnh: EVN
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định quan điểm cốt lõi: Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh.
Kinh tế Nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Tách bạch việc sử dụng nguồn lực Nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh.
Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế Nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển;
Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Các điểm mới và giải pháp đột phá
Đi vào các nhiệm vụ giải pháp cụ thể, Nghị quyết 79 yêu cầu, đối với đất đai và tài nguyên cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về đất đai và tài nguyên; phân cấp, phân quyền hợp lý trong quản lý, khai thác và sử dụng. Xây dựng thể chế để huy động, sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai, biển, đảo, đa dạng sinh học, các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn biển.
Khẳng định đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Có cơ chế, chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận đất đai; ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, nhà ở xã hội. Phấn đấu đến hết năm 2026 hoàn thiện việc đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch hệ thống dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối, chia sẻ liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác.
Điều tra, thăm dò, thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên, khoáng sản để thống nhất quản lý, sử dụng có hiệu quả; có cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tiếp cận, tiến tới làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu các loại khoáng sản. Phát triển nhanh và bền vững các loại năng lượng sạch, xanh từ biển; ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi. Kinh tế biển phải trở thành một cấu phần quan trọng trong kinh tế Nhà nước.
Tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm và kinh tế không gian vũ trụ/tầm thấp (sandbox). Hoàn thiện đồng bộ khung pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên số và tài nguyên viễn thông để phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu.
Đối với tài sản kết cấu hạ tầng: Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, đồng bộ, hiện đại, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển và dịch chuyển của các ngành kinh tế trong khu vực và trên thế giới, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu, gia tăng khả năng chống chịu các hình thái thời tiết cực đoan.
Khẩn trương bổ sung khung pháp lý về quản lý, khai thác, sử dụng đối với các loại tài sản kết cấu hạ tầng văn hóa, thể thao, du lịch, hạ tầng các khu công nghiệp, công nghệ cao, khu chế xuất, khu kinh tế, khu thương mại tự do, khu trung tâm tài chính quốc tế,... do Nhà nước đầu tư để huy động nguồn lực ngoài ngân sách cùng tham gia trên cơ sở bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.
Đối với ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn Nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, Nghị quyết nêu rõ, đổi mới quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Phân định rõ vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực ngân sách.
Chủ động nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới liên quan đến tài sản, mức phát thải carbon,…Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trên cơ sở củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, tăng tính chủ động và tự chủ cho ngân sách địa phương. Phân bổ vốn đầu tư công tập trung, tránh dàn trải, manh mún.
Chuyển giao vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống cho doanh nghiệp có chức năng kinh doanh và đầu tư vốn Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư phát triển, thực hiện trách nhiệm của chủ sở hữu đối với phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp (tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn), bảo đảm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm doanh nghiệp Nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ. Đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài do cấp có thẩm quyền giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp, Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng.
Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững. Doanh nghiệp Nhà nước được quyết định sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chủ động triển khai hoặc đặt hàng nghiên cứu phát triển bên ngoài theo cơ chế khoán sản phẩm.
Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp. Thực hiện có hiệu quả cơ chế tiền lương, bảo đảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong việc thu hút nguồn lực chất lượng cao. Có cơ chế để doanh nghiệp cổ phần được chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng nhằm thu hút, giữ chân người lao động có trình độ cao. Thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số doanh nghiệp Nhà nước.
Tiếp tục cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước. Tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước một cách thực chất, hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô; khuyến khích các tập đoàn, tổng công ty đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực doanh nghiệp có lợi thế so sánh, nhu cầu thị trường lớn, có khả năng tiếp cận công nghệ mới.
Tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp Nhà nước, ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.
Đối với các tổ chức tín dụng Nhà nước, Nghị quyết nêu rõ, áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình. Tổ chức, sắp xếp mạng lưới ngân hàng thương mại Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động. Tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại Nhà nước để nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển Ngân hàng chính sách xã hội; cơ cấu lại toàn diện Ngân hàng phát triển Việt Nam nhằm đa dạng hóa nguồn lực, gắn nhiệm vụ chính sách với phát triển kinh tế - xã hội; tập trung vào các ngành, lĩnh vực, hạ tầng quan trọng, địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập: Rà soát, sắp xếp danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; sắp xếp, tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục chuyển mạnh từ cấp trực tiếp kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công lập sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng chính sách theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí khi sử dụng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, gắn với cơ chế kiểm soát; đơn giản hóa quy trình, thủ tục đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu; điều chỉnh giá, phí dịch vụ công theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí với lộ trình phù hợp khả năng chi trả người dân và cân đối ngân sách Nhà nước, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, cạnh tranh.
Các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tối thiểu chi thường xuyên trở lên được tự chủ về tổ chức bộ máy, tiền lương và các khoản thù lao, đãi ngộ khác, tuyển dụng và sử dụng nhân sự theo kết quả hoạt động như doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tập trung đầu tư phát triển đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập quan trọng có tiềm lực, có khả năng cạnh tranh trong một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, ngành công nghệ chiến lược.
Có cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động và minh bạch của các đơn vị sự nghiệp công lập. Thí điểm thành lập bộ phận có chức năng tư vấn chuyên sâu trong các đơn vị có quy mô lớn và thực hiện việc thuê giám đốc điều hành tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Nghị quyết 79 về phát triển Kinh tế Nhà nước
Đến năm 2030, quản lý, khai thác, huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững đất đai, tài nguyên. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại, kết nối liên vùng, liên tỉnh, khu vực và thế giới.
Phấn đấu có 50 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại Nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản.
Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; tỷ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35 - 40% tổng chi ngân sách, tỉ trọng chi thường xuyên khoảng 50 - 55% tổng chi ngân sách. Phấn đấu mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030.
Phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.











