Nghị quyết 79-NQ/TW: Thay đổi căn bản tư duy về vai trò của kinh tế nhà nước

Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức về vai trò của kinh tế nhà nước, khi định vị lại khu vực này theo hướng tập trung vào các lĩnh vực then chốt, giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và mở đường cho phát triển.

Với hệ thống mục tiêu tham vọng cùng các giải pháp đồng bộ, Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài, qua đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.

Các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực hạ tầng đô thị thông minh, giao thông công cộng. Ảnh: Phạm Hùng

Các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực hạ tầng đô thị thông minh, giao thông công cộng. Ảnh: Phạm Hùng

Vai trò lớn nhưng còn nhiều điểm nghẽn

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, trong đó Nhà nước quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất và phân phối. Khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối, với doanh nghiệp nhà nước là lực lượng sản xuất chính, nắm giữ các ngành then chốt và phần lớn tư liệu sản xuất.

Mô hình này từng phát huy hiệu quả trong việc huy động nguồn lực cho kháng chiến và xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, cơ chế bao cấp đã bộc lộ nhiều hạn chế, khiến doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, thiếu động lực cạnh tranh, sản xuất không đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần dẫn tới tình trạng trì trệ và khủng hoảng kinh tế - xã hội vào thập niên 1980.

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo nhưng không còn độc quyền, mà cùng tồn tại với các thành phần kinh tế khác. Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, đổi mới thông qua cổ phần hóa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính minh bạch và cải thiện quản trị.

Đến nay, nhiều doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đã hình thành trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, hàng không và tài chính - ngân hàng…, đóng góp quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đối mặt nhiều rào cản. Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, chưa tách bạch rõ chức năng quản lý và đại diện vốn; thủ tục đầu tư kéo dài, giảm cơ hội kinh doanh. Quản trị doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu minh bạch, cơ chế bổ nhiệm chưa gắn với hiệu quả.

Hiệu quả sử dụng vốn thấp, đầu tư dàn trải, một số dự án thua lỗ kéo dài. Đồng thời, việc vừa kinh doanh vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội khiến nguồn lực bị phân tán. Năng lực đổi mới, đặc biệt trong chuyển đổi số, còn chậm. Đáng chú ý, cổ phần hóa và tái cơ cấu vẫn chậm do vướng mắc về định giá, đất đai và tỉ lệ vốn nhà nước còn cao, làm giảm hiệu quả cải cách.

Những điểm nghẽn nêu trên bắt nguồn từ việc trước đây khu vực kinh tế nhà nước được giao quá nhiều nhiệm vụ nhưng lại thiếu cơ chế quản lý và công cụ thực thi phù hợp.

Trong bối cảnh đó, cùng với Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, Nghị quyết 79-NQ/TW tiếp tục khẳng định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Điểm mới cốt lõi của Nghị quyết 79 là chuyển từ tư duy dàn trải sang tập trung vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu - nơi khu vực nhà nước có lợi thế và cần đóng vai trò dẫn dắt. Đây được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả trước đây.

Song thay đổi tư duy chưa đủ tạo chuyển biến thực chất. Nghị quyết 79 được kỳ vọng sẽ tạo đột phá phát triển cho kinh tế nhà nước là bởi sự kết hợp giữa đổi mới tư duy với việc xác lập mục tiêu và đề ra giải pháp thực thi phù hợp để tháo gỡ các điểm nghẽn.

Nghị quyết 79 đưa ra các mục tiêu rất cao, như đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á (trong đó từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới), 3 ngân hàng thương mại nhà nước vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á. Các mục tiêu tham vọng đó kèm theo các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh và đóng góp ngân sách có ý nghĩa tạo áp lực thúc đẩy cải cách mạnh mẽ, buộc các chủ thể liên quan phải hành động quyết liệt, buộc doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của mình.

Mục tiêu cao chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi kèm với cơ chế thực hiện khả thi. Nghị quyết 79 đã nhận diện đúng các điểm nghẽn của khu vực doanh nghiệp nhà nước (từ quản trị kém hiệu quả, thiếu minh bạch đến sự chưa tách bạch giữa chức năng quản lý và chức năng chủ sở hữu), từ đó đề ra các giải pháp hiệu quả. Đó là hoàn thiện thể chế quản trị, tăng cường minh bạch tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình, xử lý dứt điểm các doanh nghiệp yếu kém.

Hệ thống giải pháp có tính thực tiễn và khả thi này, nếu được triển khai thực hiện hiệu quả, sẽ giúp kinh tế nhà nước vượt qua các điểm nghẽn tồn tại lâu nay, tạo nền tảng phát triển bứt phá và bền vững.

Phát huy nguồn lực doanh nghiệp Hà Nội

Hà Nội hiện có khoảng 370 doanh nghiệp nhà nước, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ công ích, phát triển đô thị, thương mại, tài chính và viễn thông. Dù chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn, khu vực này lại nắm giữ lượng lớn nguồn lực quan trọng, từ quỹ đất, hạ tầng đến vốn. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng vốn và tài sản nhà nước vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng.

Thực tế cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp nhà nước Hà Nội không nằm ở nguồn lực, mà ở cơ chế quản lý và vận hành phù hợp, như việc thiếu áp lực cạnh tranh do không chịu áp lực từ cổ đông độc lập, lợi nhuận không gắn với thu nhập, thua lỗ được xử lý bằng cơ chế. Trong khi đó, quy trình ra quyết định còn nặng tính hành chính, qua nhiều tầng nấc, làm giảm tính linh hoạt và khả năng phản ứng với thị trường.

Cùng với đó, cơ chế bổ nhiệm nhân sự chưa thực sự dựa trên năng lực, khó thu hút đội ngũ lãnh đạo chất lượng cao. Quá trình cổ phần hóa còn mang tính hình thức khi Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối, trong khi mô hình quản trị chưa thay đổi đáng kể, dẫn đến hiệu quả hoạt động không được cải thiện rõ rệt.

Một bất cập khác là việc doanh nghiệp nhà nước thực hiện cả nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ chính trị - xã hội như bình ổn giá, cung cấp dịch vụ công ích. Tuy nhiên, do thiếu cơ chế tách bạch tài chính và bù đắp rõ ràng nên không đo được hiệu quả thật sự. Đồng thời, lợi thế đặc thù của Hà Nội như quy mô thị trường lớn, nguồn nhân lực chất lượng cao hay cơ chế chính sách riêng chưa được khai thác hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, việc tận dụng các cơ chế mới từ Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Luật Thủ đô 2024 được xem là cơ hội để Hà Nội thực hiện các cải cách mang tính đột phá. Trọng tâm là trao quyền thực chất cho hội đồng thành viên trong quyết định đầu tư, nhân sự và tiền lương, đi kèm cơ chế đánh giá, miễn nhiệm rõ ràng dựa trên hiệu quả.

Song song với đó, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn một cách thực chất, đặc biệt ở các lĩnh vực không thiết yếu, nhằm thu hút nhà đầu tư tư nhân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Việc đổi mới quản trị theo chuẩn hiện đại, công khai tài chính, tăng cường kiểm toán độc lập và tách bạch chức năng quản lý nhà nước với quản trị doanh nghiệp cũng là yêu cầu cấp thiết.

Đáng chú ý, việc tách riêng nhiệm vụ công ích và mục tiêu lợi nhuận sẽ giúp minh bạch hóa hoạt động tài chính, qua đó đánh giá đúng hiệu quả doanh nghiệp. Cùng với đó, cơ chế trả lương theo thị trường, thuê quản lý chuyên nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực vận hành.

Về dài hạn, doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào vai trò dẫn dắt trong một số lĩnh vực chiến lược như hạ tầng đô thị thông minh, giao thông công cộng, môi trường và dữ liệu đô thị. Đồng thời, Hà Nội có thể tận dụng lợi thế là trung tâm thử nghiệm chính sách để triển khai các mô hình sandbox, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước với khu vực tư nhân và hệ sinh thái khởi nghiệp.

Các giải pháp trên, nếu được triển khai đồng bộ, không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn hiện hữu mà còn tạo động lực để khu vực doanh nghiệp nhà nước của Hà Nội phát huy hiệu quả nguồn lực, đóng góp xứng đáng hơn vào tăng trưởng và phát triển bền vững của Thủ đô.

Chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Quốc Phương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/nghi-quyet-79-nq-tw-thay-doi-can-ban-tu-duy-ve-vai-tro-cua-kinh-te-nha-nuoc-744466.html