Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030
Ngày 1/10/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết Số 08-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030. Báo và Phát thanh, truyền hình Thanh Hóa trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

I. TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 27/6/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVII, môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Các quy định, cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được rà soát, sửa đổi, ban hành kịp thời; hệ thống thủ tục hành chính được cắt giảm, đơn giản hóa, đẩy mạnh giải quyết trên môi trường điện tử; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được sắp xếp tinh gọn, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vận hành thông suốt, phục vụ hiệu quả người dân, doanh nghiệp; các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở thể hiện tinh thần đồng hành, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ được nâng lên; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, tạo môi trường ổn định cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập sau: Việc giải quyết thủ tục hành chính ở một số sở, ngành, địa phương, đơn vị còn chậm; tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm vẫn còn xảy ra; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ; tiến độ giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng sạch cho một số dự án của nhà đầu tư, doanh nghiệp còn chậm; việc tiếp cận đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp còn gặp khó khăn; hỗ trợ doanh nghiệp sau cấp phép chưa thường xuyên; hạ tầng số, năng lực đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) chưa được cải thiện rõ nét, còn ở nhóm trung bình và thấp so với cả nước.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chủ yếu là do: Nhận thức, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh chưa đầy đủ, chưa coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số nơi thiếu quyết liệt, thiếu chủ động; việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ có lúc chưa thường xuyên, kịp thời; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực hạn chế, chưa tận tụy phục vụ người dân, doanh nghiệp; chưa thực hiện tốt cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm; nguồn lực đầu tư cho hạ tầng, khoa học, công nghệ còn hạn chế, trong khi cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương ngày càng mạnh mẽ.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
(1) Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm trực tiếp của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu. Kết quả thực hiện là căn cứ quan trọng để đánh giá tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên và người đứng đầu.
(2) Đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo, phục vụ; từ ban hành chủ trương sang tổ chức thực hiện đến cùng, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thu hút, triển khai dự án làm thước đo; quyết liệt “cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính” cho người dân, doanh nghiệp.
(3) Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh hiện đại, văn minh, an toàn, bình đẳng, có tính cạnh tranh cao, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong suốt quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Tăng cường liên kết vùng, mở rộng hội nhập quốc tế, nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
(4) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết chấn chỉnh tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuẩn mực đạo đức, tư duy đổi mới, năng lực chuyên môn, tác phong chuyên nghiệp, trách nhiệm, liêm chính, tận tụy phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm.
(5) Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân. Chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang chất lượng, hiệu quả và bền vững; ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, có khả năng liên kết, lan tỏa và nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu tổng quát: Tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về môi trường đầu tư kinh doanh, hình thành hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; xây dựng Thanh Hóa trở thành điểm đến an toàn, minh bạch, hấp dẫn, có năng lực cạnh tranh cao, thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chất lượng điều hành; xây dựng chính quyền phục vụ, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả; khơi thông, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
2.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
(1) Các chỉ số PCI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI của tỉnh trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.
(2) Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và được số hóa kết quả giải quyết; đến năm 2030, tỉ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt tối thiểu 80%.
(3) Rút ngắn tối thiểu 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường so với quy định; tỉ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt từ 98% trở lên; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 97%, trong đó lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng đạt tối thiểu 92%.
(4) Giai đoạn 2026 - 2030, thành lập mới 15.000 doanh nghiệp; đến năm 2030, đạt 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân; 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ cao, công nghệ số, công nghệ xanh, vốn và quản trị hiện đại; thu hút từ 3,5 tỉ USD trở lên vốn của các dự án FDI đăng ký mới; điều chỉnh vốn của các dự án FDI tăng thêm từ 0,5 tỉ USD trở lên. Có ít nhất 135 doanh nghiệp trong nước trên địa bàn tỉnh tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(5) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 840 nghìn tỷ đồng trở lên; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối các vùng, miền, các trung tâm kinh tế động lực, tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương kinh tế, văn hóa, xã hội.
(6) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tạo việc làm; chuẩn bị tốt nguồn nhân lực số, nâng cao kỹ năng số phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số, chính quyền số. Đến năm 2030, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 80% trở lên; trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt từ 35% trở lên.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn
Các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải xác định cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, lâu dài và là động lực cho phát triển để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong các lĩnh vực còn nhiều điểm nghẽn như đất đai, xây dựng, môi trường, giải phóng mặt bằng... Thực hiện nghiêm phương châm “1 xuyên suốt, 6 rõ” (một đầu mối xuyên suốt; rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm) trong quản lý, điều hành, phân công và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; chuyển nhanh từ ban hành chủ trương sang quản trị thực thi, lấy hiệu quả thực tiễn để đánh giá kết quả thực chất.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với các cơ quan, đơn vị và người đứng đầu trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại địa phương, đơn vị mình; trực tiếp đối thoại và xử lý kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Lấy kết quả Bộ chỉ số DDCI, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp và tiến độ giải quyết công việc để đánh giá, xếp loại hằng năm. Kiên quyết xử lý trách nhiệm, điều chuyển, thay thế cán bộ yếu kém, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai, sợ trách nhiệm, để công việc tồn đọng kéo dài.
2. Tạo đột phá trong cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền phục vụ, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả
Nâng cao chất lượng xây dựng thể chế và tổ chức thi hành pháp luật, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định, thủ tục, điều kiện kinh doanh thuộc thẩm quyền theo đúng quy định và phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh; kịp thời kiến nghị Trung ương tháo gỡ các vướng mắc vượt thẩm quyền. Chuẩn hóa, công khai quy trình liên thông giải quyết thủ tục dự án đầu tư (quy hoạch - đất đai - xây dựng - môi trường) theo cơ chế “một đầu mối”, có thời hạn cụ thể cho từng bước.
Rà soát tổng thể, đơn giản hóa, cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, thuế, hải quan; thực hiện hiệu quả cơ chế “làn xanh” đối với các dự án đầu tư trọng điểm, dự án công nghệ cao, dự án đầu tư chiến lược. Xây dựng và vận hành hệ thống giám sát trực tuyến theo thời gian thực việc giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện việc công khai hồ sơ trễ hạn và trách nhiệm của cơ quan, cá nhân liên quan.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã; đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến toàn trình, giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số; hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số dùng chung, tích hợp, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, địa phương; ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số tiên tiến trong hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ủy quyền theo quy định của pháp luật, nhất là trong lĩnh vực quy hoạch, đất đai, xây dựng, đầu tư, ngân sách, biên chế cán bộ, gắn với phân bổ nguồn lực và kiểm tra, giám sát. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường kiểm tra công vụ, nhất là kiểm tra đột xuất tại bộ phận trực tiếp giải quyết thủ tục; xử lý nghiêm hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao thứ hạng các chỉ số PCI, BPI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI; nâng cao chất lượng Bộ chỉ số DDCI bảo đảm 100% các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND cấp xã được đánh giá, công khai kết quả hằng năm.
3. Xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và khả năng tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp
Nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tạo dựng niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư đối với chính quyền các cấp; mọi phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến môi trường đầu tư, kinh doanh được tiếp nhận, theo dõi, trả lời đúng hạn trên môi trường số và công khai kết quả xử lý.
Đẩy mạnh cung cấp dữ liệu mở, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân theo quy định của pháp luật; thực hiện việc công khai đầy đủ, kịp thời trên môi trường số các thông tin về quy hoạch, kế hoạch, định hướng phát triển của tỉnh, danh mục dự án thu hút đầu tư, quỹ đất, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhà đầu tư của tỉnh.
Bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận đất đai, tài nguyên, vốn và các cơ chế, chính sách hỗ trợ; không phân biệt đối xử, không tạo lợi thế riêng cho bất kỳ nhà đầu tư nào; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm.
Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, cơ quan báo chí và Nhân dân đối với hoạt động công vụ; xây dựng văn hóa công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, tận tụy, phục vụ.
4. Tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của nhà đầu tư, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Xây dựng cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án, từ giai đoạn tìm hiểu, chuẩn bị đầu tư, triển khai dự án đến sản xuất, kinh doanh, nhất là các dự án quy mô lớn, dự án trọng điểm, có tác động lan toả rộng; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm dự án triển khai đúng tiến độ.
Duy trì, đổi mới hoạt động đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương với doanh nghiệp theo hướng thực chất, hiệu quả; lấy kết quả giải quyết kiến nghị để đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh; vận hành hiệu quả đường dây nóng và kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, nhà đầu tư trên nền tảng số.
Đổi mới phương thức quản lý theo hướng hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro và giám sát trên cơ sở dữ liệu; khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, trùng lặp; không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, tạo niềm tin và sự ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.
Tập trung tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, giải phóng mặt bằng; nghiên cứu cơ chế để các địa phương chủ động tạo quỹ đất sạch tại các khu, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư; kiên quyết xử lý, thu hồi các dự án chậm tiến độ, vi phạm pháp luật để tạo quỹ đất cho nhà đầu tư có năng lực.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, liên kết chuỗi giá trị; phát huy vai trò của hiệp hội doanh nghiệp trong kết nối, phản biện chính sách.
5. Huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; tập trung hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; đa dạng hóa các hình thức đầu tư; phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công; đẩy mạnh hợp tác công tư (PPP), thu hút hiệu quả các nguồn vốn từ doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, các quỹ đầu tư, nguồn vốn ODA và các nguồn lực khác để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội có trọng tâm, trọng điểm và bền vững. Ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư công cho hạ tầng khu kinh tế, các công trình, dự án hạ tầng chiến lược, có tính lan tỏa cao, tạo động lực phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh.
Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; tăng cường kết nối giữa các vùng kinh tế động lực, các đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trung tâm logistics, cảng biển, cảng hàng không và các tỉnh, thành trong khu vực. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án giao thông trọng điểm, chiến lược; nâng cao hiệu quả khai thác Cảng biển Nghi Sơn, Cảng hàng không Thọ Xuân, hệ thống đường bộ cao tốc, quốc lộ và các tuyến giao thông kết nối liên vùng.
Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng năng lượng, cấp thoát nước, xử lý chất thải, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; ưu tiên thu hút đầu tư các dự án hạ tầng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, hạ tầng xanh, kinh tế tuần hoàn. Phát triển đồng bộ hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu số, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế số, xã hội số và thu hút các ngành, lĩnh vực công nghệ cao.
6. Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, xúc tiến đầu tư
Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân với xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch; gắn hội nhập quốc tế với nâng cao nội lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao sức hấp dẫn về môi trường đầu tư của tỉnh Thanh Hóa đối với các nhà đầu tư, đối tác trong nước và quốc tế.
Đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hóa các hình thức xúc tiến đầu tư; thu hút đầu tư chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn kinh tế lớn, các doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại. Tăng cường thu hút các dự án công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, logistics, giáo dục, y tế chất lượng cao, các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, có tác động lan tỏa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng cao năng lực xúc tiến, hỗ trợ đầu tư theo hướng chuyên nghiệp; xây dựng nền tảng xúc tiến đầu tư số, cơ sở dữ liệu nhà đầu tư, dự án; nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo kinh tế thế giới và khu vực, xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư, chuỗi cung ứng và các ngành, lĩnh vực có tiềm năng phát triển.
7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
Nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; mở rộng quy mô, đa dạng hóa các ngành, nghề và hình thức đào tạo, gắn với các quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư của tỉnh và nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp.
Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, thực tiễn; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh của tỉnh; tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng quản trị số, hội nhập quốc tế, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao và kỷ luật lao động. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực chất lượng cao làm việc và cống hiến cho tỉnh.
Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng và tuyển dụng lao động sau đào tạo; khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo, đánh giá kỹ năng của nguồn nhân lực. Tiếp tục đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo, dạy nghề đạt chuẩn quốc tế tại phường Hạc Thành, các đô thị động lực và Khu kinh tế Nghi Sơn, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thị trường lao động.
8. Tăng cường bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội tạo môi trường ổn định cho đầu tư phát triển
Nắm chắc tình hình, dự báo sớm, kịp thời đề xuất xử lý các nguy cơ tác động đến môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh; bảo vệ an toàn các công trình, dự án trọng điểm, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; giải quyết kịp thời, dứt điểm các kiến nghị, khiếu nại liên quan đến đầu tư, không để phát sinh “điểm nóng”.
Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi lợi dụng đầu tư để trục lợi, chuyển giá, trốn thuế, vi phạm pháp luật về đất đai, tài nguyên, môi trường, lao động; xử lý nghiêm các hành vi cản trở, gây khó khăn cho nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; tăng cường đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động; kịp thời giải quyết các tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế phát sinh đình công, ngừng việc tập thể trái pháp luật.
Chú trọng bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp; chủ động phòng ngừa, kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội gây cản trở môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện sâu rộng Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
2. Đảng ủy HĐND tỉnh lãnh đạo HĐND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền; tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
3. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đẩy mạnh tuyên truyền, vận động cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đề ra; tăng cường giám sát, phản biện xã hội trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết.
4. Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh tham mưu, xây dựng Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết, cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách để triển khai thực hiện; thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc; định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ đảng và cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân./.

