Nghiệm về những 'trạm' dừng

VHXQ - Có những vùng đất níu chân người dừng lại để ngẫm nghĩ. Không phải vì đường đi khó, mà vì ký ức dày. Xứ Quảng là một miền như thế, qua những trạm dừng từ Hải Vân đến Dốc Sỏi, theo sông biển, ta có dịp chiêm nghiệm những biến thiên trên tiến trình lịch sử. Dừng giây lát là ta sẽ chạm vào dấu chân tiền nhân từng qua trạm nơi đây...

Những tuyến đường mới mở ra. Ảnh: L.T.K

Những tuyến đường mới mở ra. Ảnh: L.T.K

Từ thế kỷ 18, khi công cuộc mở rộng bờ cõi về phương Nam đã đi vào chiều sâu quản trị, cuốn Quảng Thuận đạo sử tập của Nguyễn Huy Quýnh ra đời, mô tả địa lý hành chính và phác họa cả bản đồ đường đi, trạm dịch, núi sông, biển cả. Ở đó, xứ Quảng hiện lên như một đoạn then chốt của đường thiên lý, nơi giao thoa giữa Bắc và Nam, núi gắn biển, sông song hành đường cái quan.

Con đường thiên lý qua xứ Quảng, từ Nam Ô đến Cẩm Sa, từ Đà Sơn, Phước Tường đến Cẩm Lệ, từng được mở và đắp theo thế đất, gần trùng hướng với quốc lộ 1 ngày nay. Đó là con đường của ngựa trạm và phu trạm, mang theo tin tức, chiếu chỉ và cả nhịp đập lịch sử.

Dưới triều Nguyễn, trên trục thư tín từ kinh thành Huế vào Nam, Quảng Nam là vùng có mật độ trạm dịch dày đặc, hình thành hệ thống thường được gọi là “Quảng Nam thất trạm”.

Trạm là nơi người đưa tin đổi ngựa, thay người, chuyển thư. Nhưng sâu hơn, trạm là nơi quyền lực trung ương chạm vào đất đai địa phương, nơi triều đình “hiện diện” giữa làng mạc xa kinh đô bằng chiếu, dụ...

Nhờ trạm, mệnh lệnh không bị đứt đoạn; nhờ trạm, miền biên viễn không bị rơi khỏi trục quốc gia. Nhưng vượt ra ngoài chức năng hành chính, trạm dần trở thành nơi tích tụ ký ức. Ở đó, con người gặp nhau, lịch sử để lại dấu vết. Nhìn theo hướng ấy, có thể xem Quảng Nam - Đà Nẵng như một chuỗi trạm lớn của lịch sử.

Trạm Hải Vân là trạm của chuyển tiếp hai xứ Huế và Quảng. Xuống khỏi đèo là trạm biển - Đà Nẵng xưa, Tourane thời Pháp.

Vào trong một chút là tới Hội An, trạm giao thương đặc biệt từ thế kỷ 17-18. Ở trạm này, mệnh lệnh nhà nước song hành với luật lệ thị trường, khi thương nhân ngoại quốc theo thuyền buôn vào cảng thị đông đúc. Chính sự song hành ấy tạo nên một Hội An trọng chữ tín, quen sống với khuôn phép nhưng không cứng nhắc. Trạm Hội An là trạm của sự điều hòa giữa trong nước và ngoài nước, giữa quyền lực chính quyền và dân sinh.

Ở vùng cực nam Đà Nẵng ngày nay còn lưu dấu vết “trạm” trong địa danh. Chợ Trạm ở Tam Hiệp, Núi Thành, là tên gọi cho thấy đây từng là một điểm dừng chân quan trọng trên trục giao thông Bắc - Nam xưa. Không có tư liệu khẳng định đó là trạm dịch theo nghĩa hành chính, nhưng đó có thể là một không gian “dừng”, nơi nhịp chuyển động của đường cái quan hòa vào sinh hoạt dân gian, nơi dòng người, tin tức và hàng hóa gặp nhau ở chợ.

Quốc lộ 1A đoạn tránh ngang qua Điện Bàn - thành La Qua cũ. Ảnh: L.T.K

Quốc lộ 1A đoạn tránh ngang qua Điện Bàn - thành La Qua cũ. Ảnh: L.T.K

Trong cấu trúc giao thông cổ, trạm đường bộ hiếm khi đứng đơn lẻ. Nó thường gắn với bến nước, đò ngang, sông đầm. Ngựa trạm đưa công lệnh đến một điểm, từ đó có thể tiếp tục chuyển bằng thuyền, đò. Cho nên song hành đường bộ là hệ thống trạm sông qua sông Cầu Đỏ, Quá Giáng, Thu Bồn, Trường Giang… Ghe thuyền chở thư tín, lương thực, quân nhu xuôi ngược.

Sông là trạm không cổng, không lính gác, nhưng bền bỉ và hiệu quả. Trên những dòng sông ấy, người Quảng hình thành tín ngưỡng thờ thủy thần, không chỉ vì sợ thiên tai, mà vì hiểu rằng sông là dòng chảy của sự sống. Qua đường nước ấy nhắc ta rằng khi phá vỡ dòng thủy lưu cũng là làm đứt mạch ký ức lịch sử.

Dấu vết của sự gặp gỡ hai đường thủy - bộ là gần chợ Trạm có sông Trạm. Những con sông nhỏ, nhánh nước chảy qua vùng Núi Thành, tuy không lớn như Thu Bồn, nhưng lại giữ vai trò kết nối, đưa người, đưa hàng, đưa thông tin từ trạm đường bộ ra sông lớn, xuôi về Kỳ Hà, Trường Giang. “Sông Trạm” vì thế có thể hiểu là dòng nước phục vụ trạm - một phần của mạng lưới hậu cần và giao thông thời xưa.

Đi tới phía Dốc Sỏi, giáp Quảng Ngãi, dấu vết trạm như Nam Vân từng đánh dấu điểm kết thúc chuỗi “Quảng Nam thất trạm”. Ở đó, trạm không chỉ là điểm giao, mà là ranh giới, là nơi người đưa tin biết rằng mình sắp rời khỏi một vùng đất để chuyển bước đệm sang miền khác. Những trạm cuối ấy thường mang cảm thức chia tay - chia tay địa giới, giọng nói, phong tục - trước khi lịch sử lại tiếp tục hành trình.

Nhìn toàn cục vùng đất rộng lớn ngày nay, không gian từ Hải Vân đến Dốc Sỏi, từ biển lên rừng, qua các dòng sông, với mạng lưới trao đổi ven sông, ven biển, có thể được xem như một đại trạm lịch sử - văn hóa. Các trạm mang ký ức biển, sông, làng, phố ấy là những điểm dừng để ngẫm nghĩ về di sản tiền nhân trao truyền cho hậu thế, để xây dựng thành phố mới giàu bản sắc, với chuỗi giá trị bản địa kết nối với quốc gia và cả thế giới.

Đà Nẵng hôm nay, trong không gian thành phố mới hợp nhất, vẫn là một trạm trung tâm điều phối kinh tế, văn hóa của cả xứ đất. Một trạm mở, nhưng cũng đầy thách thức trong việc giữ chiều sâu bản sắc văn hóa, lịch sử.

“Quảng Nam thất trạm”, từ một khái niệm hành chính của triều Nguyễn, khi nhìn lại, hóa ra là một ẩn dụ sâu sắc về cách vùng đất này tồn tại: luôn ở trên đường đi của lịch sử, luôn có “trạm” dừng lại để chuyển tiếp, để gánh vác sứ mệnh “đất yết hầu”, để mạch phát triển nối liền một cõi.

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nghiem-ve-nhung-tram-dung-3324609.html