Nghiên cứu mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống phục vụ phát triển du lịch bền vững tại xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La
Nghiên cứu đánh giá kết quả triển khai mô hình bảo tồn văn hóa bản địa gắn với phát triển du lịch bền vững tại xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La (tập trung tại bản Lướt, bản Đông Xuông và bản Nậm Nghẹp).
TÓM TẮT
Nghiên cứu đánh giá kết quả triển khai mô hình bảo tồn văn hóa bản địa gắn với phát triển du lịch bền vững tại xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La (tập trung tại bản Lướt, bản Đông Xuông và bản Nậm Nghẹp). Kết quả cho thấy mô hình tạo bước chuyển biến rõ nét về nhận thức của cộng đồng (tỷ lệ người dân "biết nhiều và rất nhiều" về văn hóa bản địa đạt 93,3%), đồng thời đưa người dân trở thành chủ thể trực tiếp trong hoạt động du lịch. Việc hình thành các không gian trưng bày gắn với trải nghiệm văn hóa Thái và Mông đã mang lại hiệu quả cao: 100% người dân và du khách đánh giá mô hình hiệu quả/rất hiệu quả, 94% du khách hài lòng. Mô hình đã bước đầu gắn kết thành công việc gìn giữ di sản với tạo sinh kế, mở ra triển vọng nhân rộng trên địa bàn tỉnh.
Từ khóa: Du lịch bền vững, Bảo tồn văn hóa bản địa, Du lịch cộng đồng, Xã Ngọc Chiến, Sơn La.
Đặt vấn đề
Bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững ngày càng được tiếp cận theo hướng lấy cộng đồng làm trung tâm. Các nghiên cứu kinh điển của Murphy (1985), Tosun (2000), Scheyvens (1999), Goodwin và Santilli (2009) đều khẳng định cộng đồng phải giữ vai trò chủ chốt trong việc tham gia, quản trị và thụ hưởng từ du lịch. Tiếp cận sâu hơn về góc độ tài nguyên, Richards (2018) và Timothy (2011) chỉ ra rằng văn hóa không đơn thuần là đối tượng thụ động cần bảo tồn, mà là nguồn lực cốt lõi để kiến tạo sản phẩm và trải nghiệm du lịch. Dù du lịch cộng đồng mang lại tiềm năng kép về gìn giữ di sản và tạo sinh kế, mức độ thành công thực tế lại phụ thuộc lớn vào năng lực tự chủ của người dân, cơ chế phân phối lợi ích cũng như việc kiểm soát nguy cơ thương mại hóa làm mất đi tính chân thực của văn hóa bản địa (MacCannell, 1973; Wang, 1999).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về du lịch cộng đồng của Bùi Thị Hải Yến (2012) hay Phạm Trung Lương (2013) đã bước đầu làm rõ giá trị tài nguyên văn hóa, sự tham gia của người dân và hiệu quả kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống lớn về các nghiên cứu thực nghiệm xây dựng, vận hành và đo lường định lượng sự chuyển biến trước – sau của mô hình bảo tồn gắn với du lịch, nhất là về nhận thức, mức độ tham gia và tính bền vững của di sản.
Sơn La sở hữu kho tàng văn hóa đặc sắc của nhiều dân tộc thiểu số với hệ thống trang phục, kiến trúc, ẩm thực, nghề thủ công, lễ hội và tri thức bản địa phong phú. Đây là nguồn lực quý giá để phát triển du lịch văn hóa và trải nghiệm. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng đặt ra nguy cơ mai một di sản, trong khi việc khai thác du lịch còn manh mún, thiếu bài bản. Thực tế này đòi hỏi phải thiết lập một mô hình tích hợp đồng bộ: Bảo tồn văn hóa - Chủ thể cộng đồng - Phát triển sản phẩm - Tạo sinh kế bền vững. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, nghiên cứu “Bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa bản địa phục vụ phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La” được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng, nhận diện tiềm năng di sản và đề xuất các giải pháp khả thi, góp phần nâng cao vai trò cộng đồng và định hình chiến lược phát triển du lịch Sơn La bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Vì vậy, cần gắn bảo tồn văn hóa - sự tham gia của cộng đồng - phát triển sản phẩm du lịch - tạo sinh kế trong một mô hình thống nhất. Xuất phát từ yêu cầu đó, nghiên cứu “Bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa bản địa phục vụ phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La” tập trung đánh giá thực trạng, xác định các giá trị văn hóa có tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao vai trò cộng đồng, bảo tồn bản sắc và phát triển du lịch Sơn La bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đối tượngvàphương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái và hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa gắn với phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại tỉnh Sơn La, trong đó khảo sát thực tế được thực hiện tại các huyện Bắc Yên, Mường La, Phù Yên và Vân Hồ; xã Ngọc Chiến được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu chuyên sâu và triển khai mô hình. Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 9/2024 đến tháng 9/2026.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua kết hợp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, số liệu thống kê, tài liệu khoa học và các cơ quan quản lý về văn hóa, du lịch và kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua tham vấn chuyên gia, điều tra bằng bảng hỏi với 320 phiếu, gồm 20 phiếu đối với cán bộ quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp; 100 phiếu đối với người dân và 200 phiếu đối với khách du lịch tại 4 huyện nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu và quan sát thực địa tại các điểm du lịch cộng đồng, làng nghề, lễ hội và các địa điểm có giá trị văn hóa truyền thống. Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, phân loại và xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, tính tần số, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình; kết hợp phân tích định tính và phương pháp so sánh giữa các nhóm đối tượng, địa bàn để đánh giá thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, mức độ tham gia của cộng đồng và khả năng phát triển du lịch bền vững.
Kết quả nghiên cứu
3.1. Đánh giá thực trạng một số các loại hình di sản văn hóa chính tại tỉnh Sơn La
Nghiên cứu khảo sát tại bốn địa bàn tiêu biểu của tỉnh Sơn La (trước sáp nhập) gồm xã Tà Xùa (Bắc Yên), xã Ngọc Chiến (Mường La), xã Mường Thái (Phù Yên) và xã Chiềng Yên (Vân Hồ), là những khu vực có tiềm năng phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng, du khách và các nhà quản lý. Nội dung nghiên cứu tập trung vào hệ thống di sản văn hóa bản địa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống như lễ hội, nghi lễ, nghệ thuật dân gian, chữ viết, phong tục tập quán và các hình thức sinh hoạt văn hóa, qua đó đánh giá khả năng bảo tồn và phát huy các giá trị này phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Hình 1. Phân bố các loại di sản văn hóa tại 4 huyện Bắc Yên, Mường La, Phù Yên, Vân Hồ (trước sáp nhập)
Qua khảo sát cho thấy, các giá trị văn hóa truyền thống của Sơn La có sức hấp dẫn tương đối lớn đối với khách du lịch, đặc biệt là những trải nghiệm gắn với đời sống cộng đồng và văn hóa bản địa. Các hoạt động như thưởng thức ẩm thực truyền thống, tham gia lễ hội, xem biểu diễn nghệ thuật dân gian, tìm hiểu phong tục tập quán, trải nghiệm sinh hoạt tại bản và khám phá kiến trúc nhà ở truyền thống có khả năng tạo ra những trải nghiệm khác biệt so với các loại hình du lịch thông thường.
3.2.Hiệu quả mô hìnhthí điểm bảo tồn văn hóa người Thái tại xã Ngọc Chiến,huyệnMường La, tỉnh Sơn La(trước sáp nhập)
Mô hình không gian bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được xây dựng và hỗ trợ vận hành trực tiếp tại các điểm du lịch cộng đồng thuộc xã Ngọc Chiến (bản Lướt, bản Đông Xuông và bản Nậm Nghẹp). Hệ thống không gian được thiết kế theo hình thức trưng bày trực quan, lưu giữ đồng bộ các nhóm hiện vật tiêu biểu như trang phục thổ cẩm dân tộc Thái và Mông, hệ thống nhạc cụ dân gian (đàn Tính, khèn, sáo), cùng các công cụ lao động sản xuất và vật dụng sinh hoạt truyền thống (dụng cụ đánh bắt cá, đồ mây tre đan, chõ xôi gỗ, gùi đeo lưng).
Điểm nổi bật của mô hình là sự kết nối hài hòa giữa trưng bày tĩnh và chuỗi hoạt động trải nghiệm văn hóa thực tế, gắn với bản sắc riêng của từng địa bàn: bản Lướt, bản Đông Xuông tập trung vào trải nghiệm văn hóa Thái (homestay, nghề dệt, đan lát, nghệ thuật Then - đàn Tính, ẩm thực và tắm khoáng nóng); bản Nậm Nghẹp gắn với trải nghiệm văn hóa Mông, cảnh quan rừng Sơn Tra và hoạt động trekking.

a) Mô hình điển hình tại Bản Lướt

b) Mô hình điển hình tại Bản Đông XuôngHình 2a-b. Mô hình bảo tồn giá trị văn hóa bản địa dân tộc Tháixã Ngọc Chiến
Kết quả khảo sát thực tế ghi nhận 100% người dân và du khách đánh giá mô hình đạt mức “hiệu quả” đến “rất hiệu quả”, trong đó 94% du khách bày tỏ mức độ rất hài lòng với không gian bảo tồn. Mô hình không chỉ góp phần nâng cao vai trò chủ thể của người dân trong việc giữ gìn bản sắc và tạo sinh kế bền vững, mà còn chứng minh tính khả thi cao, tạo tiền đề khoa học và thực tiễn vững chắc để nhân rộng trên địa bàn tỉnh Sơn La. Để đánh giá về mức độ hiệu quả mô hình thử nghiệm của đề tài, nhóm nghiên cứu đã khảo sát 75 người dân tại bản Lướt, 75 người dân tại bản Nậm Nghẹp, 150 khách du lịch.
Bên cạnh sự thay đổi về mức độ hiểu biết, nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa cũng có sự chuyển biến tích cực. Kết quả khảo sát cho thấy trước khi triển khai đề tài, chỉ 10,0% số người được hỏi đánh giá nội dung này là “rất quan trọng” và 13,3% đánh giá “quan trọng”; trong khi phần lớn (70,0%) cho rằng ở mức “bình thường” và 6,7% cho rằng “không quan trọng”. Sau khi triển khai các hoạt động của đề tài, tỷ lệ đánh giá “rất quan trọng” tăng lên 36,7%, mức “quan trọng” tăng lên 50,0%. Ngược lại, tỷ lệ đánh giá “bình thường” giảm mạnh xuống còn 13,3%, và nhóm “không quan trọng” giảm từ 6,7% xuống 0%.

Hình 3. So sánh nhận thức của người tham gia trước và sau khi triển khai mô hình tại xã Ngọc Chiến
Sự thay đổi này cho thấy người dân đã có nhận thức rõ ràng hơn về vai trò và ý nghĩa của việc bảo tồn văn hóa trong phát triển du lịch bền vững. Thông qua quá trình tham gia tập huấn, trải nghiệm thực tế và trực tiếp tham gia các hoạt động của mô hình, cộng đồng đã từng bước chuyển từ nhận thức chung sang nhận diện cụ thể những giá trị văn hóa cần được gìn giữ, khai thác và phát huy. Đây là cơ sở quan trọng để người dân tại các bản chủ động lựa chọn các nội dung bảo tồn phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời gắn bảo tồn văn hóa với xây dựng sản phẩm du lịch, hoạt động trải nghiệm và phát triển sinh kế cộng đồng tại xã Ngọc Chiến.
Kết luận và kiến nghị
4.1.Kết luận
Việc triển khai đề tài “Bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa bản địa phục vụ phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La” điển hình tại xã Ngọc Chiến đã mang lại những kết quả tích cực, khẳng định tính đúng đắn của định hướng gắn kết di sản văn hóa với du lịch cộng đồng. Thông qua các chuỗi hoạt động tập huấn, hội thảo và xây dựng mô hình thực tế, đề tài đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người dân địa phương. Tỷ lệ cộng đồng có mức độ hiểu biết tốt về văn hóa bản địa tăng mạnh (nhóm "biết rất nhiều" tăng từ 13,3% lên 33,3%; "biết nhiều" tăng từ 20,0% lên 60,0%), đồng thời có tới 86,7% người dân nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bảo tồn. Sự thay đổi này giúp người dân chuyển đổi vai trò từ đối tượng tham gia thụ động thành chủ thể trực tiếp gìn giữ, trình diễn văn nghệ, ẩm thực và hướng dẫn nghề thủ công cho du khách.
Bên cạnh đó, đề tài đã xây dựng thành công các không gian trưng bày và bảo tồn văn hóa truyền thống tại bản Lướt, bản Đông Xuông và bản Nậm Nghẹp. Các sản phẩm đặc trưng như trang phục dân tộc, nhạc cụ, nông cụ sản xuất và đồ mây tre đan được bài trí trực quan, gắn kết chặt chẽ với chuỗi sản phẩm du lịch trải nghiệm. Trong khi bản Lướt phát huy thế mạnh văn hóa Thái với dịch vụ homestay, dệt vải, hát Then – đàn Tính và tắm khoáng nóng, thì bản Nậm Nghẹp lại tạo dấu ấn đậm nét qua văn hóa Mông gắn với mùa hoa Sơn Tra và các tuyến trekking sinh thái.
Hiệu quả thực tiễn của mô hình được minh chứng qua sự đồng thuận tuyệt đối khi 100% người dân và du khách đánh giá mô hình đạt mức "hiệu quả" và "rất khả thi". Đáng chú ý, 94% du khách bày tỏ sự hài lòng với không gian bảo tồn và 90% người dân ghi nhận tác động tích cực của du lịch đến sinh kế gia đình. Mô hình không chỉ giải quyết bài toán phát triển kinh tế mà còn tạo động lực bền vững để các nghệ nhân trao truyền nghề truyền thống cho thế hệ trẻ, tạo tiền đề khoa học và thực tiễn vững chắc để tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh Sơn La.
4.2.Kiến nghị
Để duy trì và nhân rộng mô hình du lịch văn hóa bền vững tại Ngọc Chiến, cần tập trung triển khai ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, chính quyền địa phương cần ưu tiên nguồn lực hỗ trợ duy trì không gian văn hóa, chú trọng đào tạo nhân lực du lịch bản địa và đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số để kết nối Ngọc Chiến vào mạng lưới du lịch trọng điểm của Sơn La và vùng Tây Bắc.
Ở vai trò chủ thể, cộng đồng dân cư và các nghệ nhân cần chủ động truyền dạy nghề thủ công, nhạc cụ, dân ca cho thế hệ trẻ, đồng thời chuẩn hóa chất lượng dịch vụ homestay, ẩm thực gắn với bảo tồn tính nguyên bản văn hóa và giữ gìn môi trường sinh thái. Song song với đó, các doanh nghiệp lữ hành cần liên kết chặt chẽ với người dân để xây dựng các tour chuyên đề đặc sắc (văn hóa Thái, Mông, mùa hoa Sơn Tra) theo cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, đưa Ngọc Chiến vào hệ thống tour tuyến chuyên nghiệp nhằm tạo sinh kế lâu dài cho địa phương.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu được tài trợ bởi đề tài nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn cấp Tỉnh Sơn La, mã số đề tài ĐTXH.06/24.
Nguyễn Trọng Uyển1,Trần Thị Mai Anh2,
Nguyễn Thị Hạnh3,Nguyễn Đình Thi2, Vũ Thị Thu Hương2
1Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển
2Trường Đại họcNông Lâm,Đại họcThái Nguyên
3Khoa Văn hóa du lịch, Trường Cao đẳng Sơn La
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Goodwin, H., & Santilli, R. (2009).Community-Based Tourism: A success? ICRT Occasional Paper 11, International Centre for Responsible Tourism.
Murphy, P. E. (1985).Tourism: A Community Approach. New York: Methuen.
Richards, G. (2018). Cultural tourism: A review of recent research and trends. Journal of Hospitality and Tourism Management, 36, 12–21.
Tosun, C. (2000). Limits to community participation in the tourism development process in developing countries. Tourism Management, 21(6), 613–633.
Bùi Thị Hải Yến (2012).Quy hoạch du lịch. Hà Nội: NXB Giáo dục Việt Nam.
MacCannell, D. (1973). Staged authenticity: Arrangements of social space in tourist settings. American Journal of Sociology, 79(3), 589–603.
Phạm Trung Lương (2013). Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức. Tạp chí Du lịch Việt Nam, (5), 14–17.
Scheyvens, R. (1999). Ecotourism and the empowerment of local communities. Tourism Management, 20(2), 245–249.
Timothy, D. J. (2011).Cultural Heritage and Tourism: An Introduction. Bristol: Channel View Publications.

