Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện
1. Trong một bài giảng về quyển 'Chinh phụ ngâm' cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở 'Hoài Thanh toàn tập', tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ 'Hà lương chia rẽ đường này', nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).
Ngày xưa, cầu và sông là nơi gây ấn tượng mạnh những khi chia tay nhau: đến hai nơi ấy thì người ra đi, người trở về. Hai nơi này được nói nhiều trong văn chương các nước phương Đông. Ở "Chinh phu ngâm" của Việt Nam là:
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu

Tác phẩm “Hoài Thanh toàn tập”.
Ở thơ Đường thì nhiều hơn, như là bài "Hoài thượng biệt hữu nhân" (Trên sông Hoài chia tay bạn) của nhà thơ Trịnh Cốc:
Dương Tử giang đầu dương liễu xuân
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần
(Đầu sông Dương Tử, dương liễu đượm màu xuân
Hoa dương liễu làm cho người qua sông buồn muốn chết
Vài tiếng sáo vi vu ở đình ly biệt buổi chiều
Bác thì đi Tiêu Tương, tôi thì đi đất Tần!)
Bản dịch thơ của Ngô Tất Tố:
Sông Dương ngàn liễu đua tươi
Hoa dương buồn chết dạ người sang sông
Đình hôm tiếng sáo não nùng
Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần
2. Trên Báo Văn nghệ số 2 (1/1/1993) Phó giáo sư Vũ Đức Phúc có bài "Sự quan trọng của một chữ, một dấu chấm...". Về sau, bài báo này được Phó giáo sư - tiến sĩ Đào Thái Tôn tâm đắc và đưa vào Phụ lục quyển sách của anh: "Văn bản Truyện Kiều, Nghiên cứu và thảo luận", do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2003 (bản in lần thứ hai).
Trong bài báo nói trên, có đoạn Phó giáo sư Vũ Đức Phúc viết (ta chịu khó đọc đoạn văn hơi dài - dù tôi có lược bớt đôi chút - vì nó có mấy chuyện phải bàn): “Trong quyển "Thơ Mới 1932-1945" (NXB Hội Nhà văn, 1988) bài "Bụi mờ mưa cũ" (tr. 572) của Xuân Diệu có in như sau:
Bụi mờ mưa cũ gương trăng
Hoa lau trắng đã kết bằng tiêu tao
Nhưng tôi vẫn nhớ rằng trong "Gửi hương cho gió" của nhà thơ in năm 1945 thì không phải là “tiêu tao” mà là “tiêu dao”. Tiêu tao có nghĩa là tiêu điều, còn tiêu dao có nghĩa là đi đây đi đó một cách thong thả. Nếu cứ để nguyên hai chữ tiêu tao mà giải thích một cách vặn vẹo thì câu thơ cũng có nghĩa, nhưng rất khiên cưỡng.
Hơn thế nữa câu thơ còn trở nên tầm thường, không đúng phong cách của Xuân Diệu. Thực ra ở đây Xuân Diệu đã quan sát một cách rất tinh tế. Hoa lau rất nhỏ và cực kỳ nhẹ, nhưng kết thành chùm lớn. Lúc rụng thì nó thường không rơi. Khi có gió nhẹ lại mưa bụi... thì hoa lau rụng bay loanh quanh lại rơi vào chùm như kết lại với nhau. Trẻ con chơi hoa lau thường rất khó chịu ở chỗ nó rụng mà không rơi, khi rung cho nó rơi thì nó bám đầy vào tay chân, mặt mũi. Bởi vậy hai chữ “tiêu dao” rất hay, nhưng người ta không hiểu nên chữa thành một câu thơ tầm thường. Trên đây chắc chắn là in sai".
Đoạn văn này của Phó giáo sư Vũ Đức Phúc tôi thấy có mấy điều cần... phản biện.
1) Tôi đã đọc quyển "Thơ Mới 1932-1945" (trang 572) mà ông Vũ đã dẫn, cả quyển "Gửi hương cho gió" mà ông Vũ đã đọc, lại tra cứu cả "Toàn tập Xuân Diệu" và không ít quyển sách khác liên quan đến bài thơ này. Tên bài thơ và câu mở đầu bài thơ, các quyển sách ấy đều ghi "Bụi mưa mờ cũ", không như ông Vũ chép: "Bụi mờ mưa cũ".
2) Lại nữa, ở tập "Gửi hương cho gió" in năm 1945 mà ông Vũ nhắc, cũng như "Toàn tập Xuân Diệu" và các quyển sách khác liên quan đến bài thơ này mà tôi đọc, đều thấy ghi: "Hoa lau trắng đã kết bằng tiêu tao" - không thấy chỗ nào in “tiêu dao" như ông Vũ đã khẳng định. Vậy có phần chắc, ông Vũ đã nhớ... lầm. Mà, với một dữ liệu quan trọng như vậy đối với bài viết của mình, ông đã không chịu kiểm tra lại!
3) Phó giáo sư Vũ Đức Phúc giải nghĩa hai chữ tiêu dao thì đúng, nhưng giải nghĩa hai chữ tiêu tao thì thiếu; và vì thiếu như vậy đã dẫn đến một lập luận không vững. Thật ra, tiêu tao, ngoài nghĩa tiêu điều như ông Vũ nói, còn nghĩa buồn bã. (Có thể xem, chẳng hạn "Hán Việt từ điển" của Đào Duy Anh).
4) Từ chứng cứ trên, có thể thấy, câu thơ Xuân Diệu muốn “thông báo” với người đọc: nỗi buồn đã kết lại, đã thể hiện ở hoa lau trắng. Câu thơ rất đơn giản, dễ hiểu, không hề phải làm ai “giải thích văn vẹo” như ông Vũ e ngại. Câu thơ cũng không hề “tầm thường” như ông Vũ thấy - mặc dù trong "Gửi hương cho gió" cũng có những câu thơ tầm thường. Mà cho dù nó có tầm thường chăng nữa, nó cũng hầu như không ảnh hưởng gì đến “phong cách” thơ Xuân Diệu mà ông Vũ... sợ. Phong cách một nhà thơ được tổng hợp từ rất nhiều câu thơ, nhiều bài thơ, không chỉ một câu thơ, một bài thơ.
5) Như vậy là, không thể khẳng định câu thơ "Hoa lau trắng đã kết bằng tiêu tao" - “chắc chắn là in sai” như ông Vũ đã khẳng định. Mà nữa, tại sao ông Vũ vừa mới viết ở trên rằng “người ta không hiểu nên chữa..." ngay sau đó ông lại nói “chắc chắn là in sai”? Chữa và in sai là hai chuyện khác nhau chứ!
6) Vậy, câu thơ Xuân Diệu mà ông Vũ nhắc, phải được xác định chắc chắn rằng tác giả viết là: "Hoa lau trắng đã kết bằng tiêu tao", không phải như ông cho là: "Hoa lau trắng đã kết bằng tiêu dao"
3. Quyển "Cảm nhận thi ca" của Trần Văn Lý. Nhà xuất bản Văn học, H. 1999 có mấy điều đáng bàn. Ở trang 172, tác giả viết: "... hãy tạm lấy thế kỷ 20, 21 làm ví dụ: Ở Việt Nam ta đã viết được bao nhiêu câu thơ cỡ "Yêu là chết ở trong lòng một ít - Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu" chỉ có cặp câu thơ trên của Xuân Diệu, chứ không có hai". Hai câu thơ trên hay thật. Nhưng nên nhớ nó chỉ của Xuân Diệu một nửa, thậm chí ít hơn một nửa! Còn là của người khác.
Các nhà nghiên cứu đã nhắc chúng ta rằng, câu "Yêu là chết ở trong lòng một ít" được Xuân Diệu mượn từ ý một câu của nhà thơ Pháp Edmond Haraucourt: "Partir, c'est mourir un peu" (Đi là chết đi một ít). Và hình như chính nhà thơ Xuân Diệu đã có lần tự nhận việc này. Vì vậy, nếu có khen Xuân Diệu ở hai câu thơ kia thì cũng nên, một vừa hai phải thôi! Cũng ở sách trên, trang 42, trong lúc tranh luận về một vấn đề của thơ, tác giả cao giọng chất vấn với vẻ châm biếm, khôi hài: “Từ xưa tới nay đã ai đem thơ bỏ vào quả bầu chưa? Nếu có thì mang xách thế nào? Mà đeo ở lưng chắc trông ngộ lắm? Quả bầu ấy dứt khoát là nó trườn cho kỳ được xuống đất chứ cứ gì chỉ trườn xuống hông thôi".
Cách mang xách quá "bầu thơ" thế nào thì chưa thấy ai nói, nhưng đem bỏ thơ vào quả bầu như tác giả những dòng trên tỏ ra ngạc nhiên, thậm chí... trào phúng, thì chắc chắn đã có rồi đấy. Sử sách chép, đời Đường (Trung Quốc) có Đường Cầu, người đất Vị Giang tỉnh Tứ Xuyên làm thơ viết vào giấy, rồi vo tròn lại bỏ vào quả bầu khô. Người bấy giờ gọi đó là thi biều.
Thi nhân hồi ấy còn có các loại thơ khác nữa: thơ đề trên mảnh gỗ, gọi là thi bản (hay thi bài); thơ viết vào mành tre gọi là thi giản...
Nguồn CAND: https://cand.vn/nghien-cuu-phe-binh-tho-may-dieu-phan-bien-post811734.html











