Nghiên cứu và bảo tồn giống ngựa Việt Nam: Giữ nguồn gen quý giữa nhiều thách thức
Việt Nam có truyền thống chăn nuôi ngựa lâu đời, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong bối cảnh cơ giới hóa ngày càng phát triển, vai trò của ngựa có nhiều thay đổi, song giá trị về nguồn gen, thích nghi sinh thái và tiềm năng khai thác trong thể thao, du lịch... vẫn còn đáng kể
Đa dạng giống ngựa đang được nghiên cứu, bảo tồn
Theo ThS Vũ Đình Ngoan, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Núi (Viện Chăn nuôi), công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát triển giống ngựa ở nước ta đang được duy trì với nhiều hướng đi cụ thể, dù còn không ít khó khăn.
Hiện nay, Trung tâm đang nuôi giữ, bảo tồn và khai thác phát triển một số nhóm giống ngựa gồm: ngựa lai đua, ngựa bạch Việt Nam, ngựa bản địa (ngựa màu) và ngựa lai Kabardin.
Bên cạnh đó, tại Việt Nam đã xuất hiện ngựa mini (ngựa lùn) phục vụ du lịch. Năm 2021, Bộ Công an cũng nhập giống ngựa Mông Cổ để nuôi dưỡng, chăm sóc và giao cho Đoàn Cảnh sát cơ động kỵ binh sử dụng làm ngựa nghiệp vụ. Hoạt động nghiên cứu tập trung vào bảo tồn nguồn gen, tránh thoái hóa, đồng thời lai tạo nhằm cải thiện tầm vóc, sức kéo và khả năng sử dụng trong điều kiện miền núi.

Bãi chăn thả ngựa của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Núi.
Theo đánh giá của ThS Vũ Đình Ngoan, các giống ngựa bản địa Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt so với giống ngoại nhập.
Về tầm vóc, ngựa bản địa thường nhỏ bé nhưng dẻo dai, phù hợp với địa hình dốc, hiểm trở. Về tập tính, chúng có khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt cao, ít bệnh tật, thích nghi tốt với phương thức chăn nuôi thả rông hoặc bán thả rông của đồng bào miền núi. Đáng chú ý, trong nhóm ngựa bản địa có dòng ngựa bạch mang lại giá trị kinh tế cao.
Một ví dụ tiêu biểu là ngựa Mường Lống – giống ngựa bản địa được nuôi từ lâu đời tại huyện Kỳ Sơn (Nghệ An), gắn với đồng bào Mông vùng núi cao. Giống ngựa này thích nghi tốt với khí hậu lạnh, điều kiện tự nhiên vùng núi trên 1.300m so với mực nước biển và ít bệnh tật.
Ngựa Mường Lống có màu lông đa dạng như vàng, nâu hoặc đen. Ngựa trưởng thành cao khoảng 1,1–1,3m, nặng gần 200kg. Trước đây, chúng được sử dụng phổ biến để thồ hàng, vận chuyển lúa gạo, cưỡi di chuyển trên núi. Tuy nhiên, số lượng hiện nay đã giảm đáng kể. Giống ngựa này nằm trong danh mục vật nuôi cần bảo tồn và cấm xuất khẩu theo Thông tư 94/2025/TT-BNNMT.

Ngựa Việt Nam nói chung và ngựa bản địa nói riêng có giá trị nguồn gen tốt nhờ những đặc điểm thích nghi, sức bền và khả năng chịu kham khổ.
Theo ThS Vũ Đình Ngoan, ngựa Việt Nam nói chung và ngựa bản địa nói riêng có giá trị nguồn gen tốt nhờ những đặc điểm thích nghi, sức bền và khả năng chịu kham khổ. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, một số quần thể ngựa bản địa đã bị lai tạp, làm suy giảm tính thuần và nguy cơ thoái hóa nguồn gen. Điều này đặt ra yêu cầu phải quản lý giống chặt chẽ hơn.
Để bảo tồn đàn thuần và hạn chế lai tạp không kiểm soát, đơn vị đang thực hiện quản lý giống thông qua hệ thống sổ sách theo dõi, ghi chép chi tiết, ghép đôi giao phối có kiểm soát nhằm tránh đồng huyết.
Công tác bảo tồn nguồn gen ngựa được triển khai theo hai hướng song song. Thứ nhất là bảo tồn in-situ (tại chỗ) gắn với phát triển sản xuất. Trung tâm phối hợp xây dựng mô hình hợp tác xã, hộ gia đình chăn nuôi nhằm duy trì đàn giống trong điều kiện tự nhiên và sinh kế của người dân.
Thứ hai là bảo tồn ex-situ (chuyển vị), tức nuôi giữ tại các trung tâm giống để duy trì nguồn gen sống, đồng thời nghiên cứu lưu trữ vật liệu di truyền như tinh đông lạnh. Hàng năm, đơn vị vẫn duy trì đàn bảo tồn và phát triển nguồn gen theo kế hoạch chuyên môn.
Nhiều khó khăn trong nhân giống bảo tồn nguồn gen ngựa
Theo ThS Vũ Đình Ngoan, việc ứng dụng thụ tinh nhân tạo (TTNT) trên ngựa hiện còn hạn chế và chủ yếu thực hiện trong các trại chăn nuôi chuyên nghiệp. Trong chăn nuôi nông hộ, phương pháp này rất khó triển khai.
Theo phân tích của ThS Vũ Đình Ngoan, đặc tính động dục của ngựa cái kéo dài 5–7 ngày, yêu cầu cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao mới có thể thực hiện TTNT hiệu quả. Do đó, tại hộ dân, hình thức phối giống trực tiếp vẫn phổ biến.

Các nhà khoa học Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Núi (Viện Chăn nuôi) đánh giá chất lượng tinh dịch ở trâu, ngựa.
Các nội dung như chọn lọc di truyền, phân tích gen mới dừng ở mức nghiên cứu. Nguyên nhân là ngựa chưa được xem là vật nuôi chủ lực; sản phẩm từ ngựa chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu thực phẩm và chiến lược phát triển chăn nuôi quốc gia.
Trong những năm 2000, đơn vị đã nhập ngựa Cabardin để "làm tươi máu", tránh đồng huyết và tạo con lai mang 50% hoặc 25% máu Cabardin. Các cá thể ngựa đực lai này được chuyển giao về địa phương để lai với ngựa bản địa, tạo con lai có tầm vóc lớn hơn nhưng vẫn phù hợp điều kiện chăm sóc vùng núi, tăng hiệu suất thồ hàng, kéo và cưỡi.
Giai đoạn 2006–2012, đơn vị tiếp tục nhập tinh ngựa đua từ nước ngoài để lai tạo bằng TTNT, hình thành ngựa lai đua phục vụ thể thao và du lịch. Hiện nay, một số đơn vị tư nhân cũng nhập ngựa đua thuần chủng phục vụ nhu cầu thể thao, du lịch. Một số trang trại đầu tư lớn vào lĩnh vực này.

Dù công nghiệp hóa phát triển thì ngựa vẫn có vai trò tại những vùng sâu, vùng xa, biên giới – nơi máy móc khó tiếp cận.
Chuyên gia nhận định, dù công nghiệp hóa phát triển thì ngựa vẫn có vai trò tại những vùng sâu, vùng xa, biên giới – nơi máy móc khó tiếp cận. Ngựa được sử dụng trong tuần tra biên phòng, ngựa nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát cơ động kỵ binh.
Trong lĩnh vực du lịch và thể thao, nhu cầu về ngựa thể thao, ngựa biểu diễn đang tăng. Ngựa cũng được sử dụng trong sản xuất kháng huyết thanh phục vụ y học và chăn nuôi. Một số mô hình điều trị hỗ trợ cho trẻ em bằng liệu pháp với ngựa đã phát triển ở một số quốc gia và bước đầu xuất hiện tại Việt Nam.
Theo ThS Vũ Đình Ngoan, khó khăn lớn nhất trong nghiên cứu và bảo tồn ngựa hiện nay là ngựa chưa nằm trong nhóm vật nuôi chủ lực, chưa được đặt trong tư duy chiến lược của quản lý ngành. Sản phẩm từ ngựa có giá thành cao, thị trường hạn chế.
Ở vùng miền núi, người dân thường lựa chọn vật nuôi theo hiệu quả kinh tế trực tiếp. Kiến thức khoa học kỹ thuật còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số. Tuy vậy, khi giá ngựa bạch tăng cao, một số địa phương đã bắt đầu phát triển chăn nuôi ngựa bạch để nâng cao thu nhập.

Nghiên cứu và bảo tồn giống ngựa ở Việt Nam hiện nay vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế miền núi.
Hàng năm, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền Núi tham gia các chương trình giảm nghèo, cung cấp gia súc (trâu, bò, ngựa) kèm tập huấn kỹ thuật nhằm nâng cao nhận thức và năng lực chăn nuôi cho người dân.
Theo chuyên gia, nghiên cứu và bảo tồn giống ngựa ở Việt Nam hiện nay vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế miền núi. Dù chưa phải vật nuôi chủ lực, ngựa vẫn giữ vai trò nhất định trong an ninh, du lịch, dược liệu và văn hóa vùng cao.
Việc quản lý giống chặt chẽ, kết hợp bảo tồn tại chỗ và chuyển vị, đồng thời từng bước ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sẽ là nền tảng quan trọng để duy trì và phát triển bền vững nguồn gen ngựa Việt Nam trong thời gian tới.











