Ngoại giao kinh tế 2025: Mở không gian phát triển
Năm 2025 đánh dấu công tác ngoại giao kinh tế đã vươn lên trở thành một nhiệm vụ cơ bản và trung tâm, đóng vai trò tiên phong trong việc kiến tạo các động lực tăng trưởng mới cho quốc gia.
Những con số kỷ lục
Trong dòng chảy của kỷ nguyên mới, khi địa chính trị và kinh tế toàn cầu đang trải qua những đợt tái cấu trúc chuỗi cung ứng chưa từng có, ngoại giao kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển mình mạnh mẽ, gặt hái những kết quả tích cực.
Những kết quả ấy được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá tại hội nghị về tổng kết công tác ngoại giao kinh tế tối ngày 10/1 là mang tính chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế, mang lại những hiệu quả rõ rệt.
Minh chứng cho sự bứt phá này là hệ thống các con số kỷ lục.
Trong khuôn khổ 75 hoạt động đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt trong năm 2025, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ với 17 quốc gia và ký kết tới 350 thỏa thuận hợp tác – một con số gấp 2,5 lần so với năm trước đó, theo thông tin từ hội nghị.

Các hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ là các vấn đề trọng tâm và được Việt Nam thúc đẩy với nhiều đối tác chủ chốt, đơn cử như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU cũng như các nước ASEAN và một số nước Trung Đông, châu Phi.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhiều nước điều chỉnh chính sách bất ngờ, ngoại giao kinh tế đã góp phần giải quyết các vấn đề đặt ra, tham mưu xây dựng phản ứng chính sách linh hoạt, nâng cao khả năng thích ứng, chống chịu và tự chủ chiến lược của nền kinh tế, duy trì đà tăng trưởng, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đánh giá trong bài viết mới nhất.
Những nỗ lực này đã góp phần đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2025 vượt mốc 900 tỷ USD, củng cố vị thế của đất nước trong nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu.
Không chỉ vậy, việc thúc đẩy đàm phán các FTA mới, mở rộng thị trường Halal, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, góp phần nâng cao tiềm lực và sức chống chịu của nền kinh tế.
Những nỗ lực này đã góp phần đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến vượt mốc 900 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Cùng với đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục đổ mạnh vào Việt Nam với quy mô gần 40 tỷ USD vốn đăng ký.
“Điều đáng khích lệ là các dự án đầu tư đã cao hơn về chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm và đáp ứng các ưu tiên của chúng ta về phát triển dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng chiến lược với tầm nhìn dài hạn”, ông Trung đánh giá.
Sự đột phá trong thành quả của ngoại giao kinh tế không chỉ nằm ở các con số mà còn ở chất lượng và chiều sâu của các mối quan hệ quốc tế, khi Việt Nam hiện đã thiết lập khuôn khổ từ Đối tác toàn diện trở lên với 42 đối tác quan trọng, giúp vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong nền kinh tế thế giới.
Vai trò ngày càng quan trọng của ngoại giao kinh tế
“Nhìn lại chặng đường từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến nay, có thể khẳng định rằng, công tác ngoại giao kinh tế đã đạt những bước tiến quan trọng, mang tính đột phá. Thành quả này là sự kết tinh của những yếu tố nền tảng, mang tầm vóc chiến lược. Đó là sự đổi mới tư duy sâu sắc, chỉ đạo quyết liệt của Đảng”, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng chia sẻ với báo chí nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập ngành ngoại giao Việt Nam.
Bà cho biết, lần đầu tiên, ngoại giao kinh tế được đưa thành một chủ trương trong văn kiện Đại hội Đảng. Đó là sức mạnh của sự đồng thuận cao và vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
Từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước đến đối ngoại nhân dân, từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong nước đến các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tất cả đã tạo nên một mặt trận ngoại giao kinh tế thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ và hiệu quả.
Ngay sau Đại hội XIII, Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, kiến nghị ban hành Chỉ thị 15 của Ban Bí thư và Nghị quyết 21 về Chương trình hành động của Chính phủ, tạo nền tảng chính trị và pháp lý vững chắc, khẳng định vị thế mới của ngoại giao kinh tế: là một nhiệm vụ cơ bản, trung tâm của ngoại giao Việt Nam; một động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Trong năm 2025, đóng góp của ngoại giao kinh tế trước hết thể hiện ở việc kịp thời nắm bắt, dự báo xu hướng vận động của kinh tế thế giới, các lĩnh vực phát triển mới, từ đó tham mưu, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, ông Trung đánh giá.
Công tác ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học công nghệ đã sớm quán triệt triển khai các chủ trương lớn của Bộ Chính trị như các Nghị quyết 57, 59, 66, 68, 70.
Ngoại giao khoa học - công nghệ trở thành một mũi nhọn mới, tập trung vào nội hàm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, góp phần hiện thực hóa xây dựng 11 công nghệ chiến lược, đóng góp thực chất vào việc triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
5 ưu tiên cho chặng đường tới
Sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, hướng tới 2 mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập nước (2045). Đây là thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ của đất nước cả về tư duy, hành động và khát vọng, là sự tiếp nối hành trình gần 40 năm đổi mới để “vươn mình, bứt phá và phát triển vượt bậc”.
Bà cho rằng, để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngoại giao kinh tế cần có sự chuyển mình mạnh mẽ, trước hết là chuyển từ “lượng” sang “chất”, từ thu hút sang kiến tạo.
Trên tinh thần Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, ngoại giao kinh tế Việt Nam sẽ không chỉ dừng ở việc “đến sau”, “tham gia, gia nhập” mà kỳ vọng đóng góp “trí và lực” để “xây dựng và định hình” các khuôn khổ hợp tác, tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển, qua đó đặt nền tảng vững chắc cho không gian phát triển mới cho đất nước.
Bên cạnh đó, nội hàm của ngoại giao kinh tế cũng sẽ không chỉ là xúc tiến thương mại, đầu tư, mà còn mở rộng sang các nội hàm mới, chuyên biệt hơn như ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao xanh…
Đơn cử, chuyến thăm cấp nhà nước tới Hàn Quốc của Tổng Bí thư Tô Lâm vào năm ngoái đã ghi nhận sự chuyển biến chiến lược từ hợp tác kinh tế sang liên kết kinh tế, qua đó mở ra những cơ hội mới trong tạo dựng, thu hút các nguồn lực.
Về phương thức, bà Hằng nhấn mạnh, cần bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, với phương châm “chủ động – sáng tạo – đồng bộ - hiệu quả”, công tác ngoại giao kinh tế cần sự đồng lòng, phối hợp, gắn kết chặt chẽ hơn giữa các chủ thể, giữa trong nước – ngoài nước, giữa các trụ cột đối ngoại, giữa Bộ Ngoại giao với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội/doanh nghiệp.
Với tinh thần “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp; lấy ngoại giao kinh tế là trung tâm” của dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng XIV, và với cách tiếp cận mới, bà Hằng nhấn mạnh, công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển thời gian tới cần bám sát năm ưu tiên.
Đó là làm sắc nét hơn nội dung kinh tế trong các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chú trọng các chương trình, dự án, sản phẩm cụ thể, có ý nghĩa chiến lược, có tính khả thi; không ngừng làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống đi cùng với khai thác tối đa và hiệu quả các FTA đã ký kết, mở rộng và tiếp cận các thị trường tiềm năng.
Không chỉ vậy, cần nâng cao chất lượng và tính thiết thực của công tác nghiên cứu, gắn với hơi thở cuộc sống, bám sát tình hình thực tế, kịp thời tham mưu chính sách “trúng” và “đúng”, vừa tạo không gian chiến lược vừa thúc đẩy các trụ cột phát triển trong nước.
Bà Hằng cũng nhấn mạnh, cần ưu tiên gắn kết chặt chẽ ngoại giao kinh tế với hội nhập quốc tế, chủ động tham gia quá trình định hình các luật lệ, chuẩn mực quốc tế mới, nhất là trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của kinh tế thế giới.
Ngoài ra, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, nhất là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh.













