Ngọn lửa thắp lên, những trang sử được viết tiếp...
Từ chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quan hệ Đối tác chiến lược ngày nay, tình hữu nghị Việt Nam - Azerbaijan được xây dựng không chỉ bởi các văn kiện mà còn từ những cuộc gặp gỡ, tiếng đàn và những cử chỉ đời thường...
Từ dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Azerbaijan. Đứng giữa Baku hôm nay, giữa những đại lộ hiện đại và những tòa nhà vươn cao, đôi khi tôi cố hình dung thành phố này của hơn sáu mươi năm về trước. Khi ấy chưa có Flame Towers rực sáng trong đêm, chưa có những đường nét trắng uốn lượn của Trung tâm Heydar Aliyev, chưa có một Baku đang chuyển mình mạnh mẽ thành một đô thị hiện đại bên bờ Caspi.
Nhưng đã có biển, có gió, có lửa trong lòng đất và có những con người Azerbaijan đón một vị khách đến từ Việt Nam xa xôi. Dấu chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Baku vì thế không chỉ là một dấu mốc của lịch sử ngoại giao; nó giống như một sợi chỉ mảnh nhưng bền, nối hai dân tộc qua những biến động của thời gian.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm mỏ dầu ở sát bờ biển Baku, năm 1959. (Nguồn: ĐSQ Azerbaijan tại Việt Nam)
Lịch sử ấy tiếp tục được viết bằng những cuộc gặp gỡ của các thế hệ lãnh đạo sau này. Cố Tổng thống Heydar Aliyev từng đến Việt Nam năm 1983 trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992; nhiều thế hệ cán bộ, kỹ sư Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí từng được đào tạo và làm việc tại Azerbaijan. Những mạch nối ấy đã tạo nên một nền tảng đặc biệt trong quan hệ hai nước, nơi ký ức về sự giúp đỡ trong những năm tháng khó khăn của Việt Nam không mất đi cùng thời gian mà trở thành một phần của lòng tin chính trị giữa hai dân tộc.
Bởi vậy, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Baku tháng 5/2025, tôi nghĩ chuyến thăm ấy giống như một lần trở lại của lịch sử trong một diện mạo mới. Tại cuộc hội đàm với Tổng thống Ilham Aliyev, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhắc lại rằng quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Azerbaijan được đặt nền móng từ chuyến thăm Azerbaijan năm 1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của nhân dân Azerbaijan đối với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Hai nước sau đó thông qua Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, mở ra một chương mới cho quan hệ song phương.
Tôi thích chữ “chương” hơn chữ “cột mốc”. Cột mốc chỉ đứng đó để người ta nhìn lại quãng đường đã đi qua; còn một chương mới bao giờ cũng hàm ý rằng câu chuyện vẫn còn tiếp tục, rằng phía trước còn những trang giấy chưa viết. Những văn kiện được ký trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã mở ra những hướng hợp tác mới trong năng lượng, dầu khí, khoa học - công nghệ, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đầu tư và giao lưu nhân dân; Tổng thống Ilham Aliyev cũng bày tỏ mong muốn thu hút doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam đầu tư và kinh doanh tại Azerbaijan.
Nhưng tất cả những điều ấy, dù quan trọng đến đâu, vẫn chỉ mới là phần khung của một câu chuyện lớn hơn. Phần nội dung của câu chuyện phải được tạo nên từ những cuộc gặp, những công việc cụ thể, những dự án cụ thể và trên hết, từ sự hiểu biết lẫn nhau giữa con người hai nước.
Khi tiếng đàn Việt Nam vang lên
Vì vậy, tôi đặc biệt xúc động trong những ngày đoàn nghệ sĩ Việt Nam sang Azerbaijan vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 2026. Khi 27 nghệ sĩ Nhạc viện Quốc gia Việt Nam, do NSND Bùi Công Duy dẫn đầu, bước lên sân khấu GabalaFest. Họ không chỉ mang theo những bản nhạc, họ mang theo một phần ký ức của đất nước mình: Tiếng trống hội, tiếng đàn bầu, đàn T’rưng, sáo trúc, những làn điệu Then và cây đàn tính mộc mạc. Trong không gian khoáng đạt của Gabala, giữa các nghệ sĩ đến từ Azerbaijan, Áo, Kazakhstan, Moldova, Uzbekistan và Việt Nam, âm nhạc Việt Nam bỗng có một đời sống mới.
Tôi nhớ khoảnh khắc tiếng đàn tính vang lên. Nó không lớn, không ồn ào nhưng có một sức quyến rũ kỳ lạ. Có lẽ bởi trong âm thanh mộc mạc ấy không chỉ có kỹ thuật của người nghệ sĩ mà còn có bóng dáng của những bản làng, những triền núi, những mùa lúa và một miền văn hóa đã được truyền từ đời này sang đời khác. Khán giả Azerbaijan chăm chú lắng nghe; rồi những tràng pháo tay kéo dài sau mỗi tiết mục. Không ít người nán lại sau chương trình để tìm hiểu về nhạc cụ dân tộc và những câu chuyện văn hóa được gửi trong từng giai điệu.

Hình ảnh Bộ trưởng Tình trạng khẩn cấp Azerbaijan Kamaladdin Heydarov với cây đàn Tính. (Ảnh: TGCC)
Bộ trưởng Bộ Tình trạng Khẩn cấp Azerbaijan Kamaladdin Heydarov cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho đoàn Việt Nam. Trước chương trình khai mạc, ông trực tiếp gặp gỡ các nghệ sĩ, bày tỏ sự yêu thích đối với cây đàn tính và những làn điệu Then, đánh giá cao việc nghệ sĩ Việt Nam kết hợp kỹ thuật biểu diễn chuyên nghiệp với việc gìn giữ bản sắc truyền thống. Ông còn dành thời gian lên Gabala xem đoàn nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn. Một vị bộ trưởng, giữa những công việc lớn của một đất nước, ngồi nghe tiếng đàn của một dân tộc ở cách Azerbaijan rất xa - hình ảnh ấy đối với tôi có một vẻ đẹp riêng. Bởi trong khoảnh khắc ấy, những khái niệm lớn như ngoại giao, chiến lược, hợp tác hay đối tác bỗng trở nên gần gũi, hữu hình, như thể chúng có một khuôn mặt và một ánh mắt.
Sau Gabala, đoàn nghệ sĩ trở về Baku và tiếp tục chương trình Ngày Âm nhạc Việt Nam tại Azerbaijan ngày 1/8. Các nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn cùng những nghệ sĩ Azerbaijan, sân khấu trở thành nơi hai nền văn hóa không đứng đối diện nhau mà đứng cạnh nhau. Tôi nghĩ đó là một hình thức đối thoại đẹp: Không ai phải nói rằng văn hóa của mình hay hơn văn hóa của người khác; mỗi bên chỉ cần đem đến những gì tinh túy nhất của mình rồi lắng nghe nhau.
Trong những ngày ấy, tôi nhận ra âm nhạc có một sức mạnh mà những bài diễn văn dài đôi khi không có. Một tiếng đàn có thể khiến một người Azerbaijan tò mò về Việt Nam. Một làn điệu Then có thể khiến họ hỏi người nghệ sĩ rằng cây đàn kia được làm bằng gì, người hát kia đang kể câu chuyện gì. Và từ một câu hỏi về cây đàn, câu chuyện có thể đi xa hơn: Đến một vùng đất, một dân tộc, một lịch sử, một con người. Ngoại giao văn hóa nhiều khi bắt đầu như thế, không phải bằng những lời lớn lao mà bằng sự tò mò chân thành về nhau.

Các nghệ sĩ đoàn Việt Nam. (Ảnh: TGCC)
Từ Gabala đến Baku, hành trình của đoàn nghệ sĩ vì thế không chỉ được tính bằng số cây số. Nó được tính bằng những ánh mắt đã gặp nhau, những tràng pháo tay đã vang lên, những cuộc trò chuyện đã bắt đầu sau mỗi buổi diễn. Tôi tin rằng, sau những ngày ấy, trong ký ức của một số người Azerbaijan, Việt Nam sẽ không còn chỉ là một cái tên xa xôi trên bản đồ. Việt Nam có thể là tiếng đàn bầu, một điệu Then, một cây đàn tính, một giai điệu dân tộc vang lên giữa Gabala. Và đó là lúc một đất nước bắt đầu bước vào ký ức của một dân tộc khác bằng con đường đẹp nhất: Con đường của văn hóa.
Tôi lại nhớ đến Reyhan trong những ngày ấy. Chị không đứng trên sân khấu, không xuất hiện trong những bức ảnh long trọng, nhưng chị có mặt ở phía sau, nơi những công việc âm thầm quyết định một chuyến đi có thuận lợi hay không. Tôi nghĩ những con người như chị chính là phần hậu trường của tình hữu nghị. Họ không tạo ra những dòng tít lớn trên báo chí, nhưng họ làm cho những dòng tít ấy có một đời sống thực.
Cũng như những cán bộ Azerbaijan đã tận tình giúp chúng tôi hoàn thành công việc, những người sẵn sàng giải thích một thủ tục, chỉ dẫn một địa chỉ, hỗ trợ một nhiệm vụ; hay người dân bình thường đã quẹt chiếc thẻ metro của mình để một người khách nước ngoài đi qua cửa soát vé mà không lấy lại tiền. Những cử chỉ ấy nhỏ đến mức nếu đem đặt cạnh những con số về thương mại, đầu tư hay những văn kiện cấp cao thì dường như chúng chẳng đáng kể. Nhưng tôi lại nghĩ chính những điều nhỏ bé ấy mới là thứ giúp một quan hệ quốc tế có được hơi ấm của đời sống.
Một đất nước có thể được giới thiệu bằng những con số tăng trưởng, bằng những dự án lớn, bằng những công trình hiện đại. Nhưng một dân tộc thường được nhớ bằng khuôn mặt của những con người mà ta từng gặp. Với tôi, Azerbaijan có khuôn mặt của Reyhan, của người đã chỉ đường, của người đã giúp tôi qua cửa metro, của những cán bộ đã tận tình trong công việc, của vị Bộ trưởng đã lên Gabala nghe tiếng đàn tính và của những khán giả đã vỗ tay cho nghệ sĩ Việt Nam. Những khuôn mặt ấy, hơn bất cứ bài thuyết minh nào, đã nói với tôi rằng hai đất nước đang thực sự đến gần nhau.

Cung Thể thao Baku. (Ảnh: TGCC)
Tôi không muốn biến Baku thành một bức tranh toàn ánh sáng. Thành phố nào cũng có những khoảng tối của nó. Ở Baku, đôi khi một tài xế taxi thiếu thân thiện có thể làm một du khách nước ngoài khó chịu; một cách tính tiền không minh bạch có thể làm hỏng một buổi tối; những đoạn đường tắc vào giờ cao điểm có thể khiến người ta nhớ đến Hà Nội với một nụ cười vừa buồn cười vừa bất lực. Trong những chuyến đi tới Gabala cũng có lúc dịch vụ chưa được như mong đợi. Đó là những hạt sạn có thật của đời sống, tôi nghĩ một người viết không nên phủ chúng bằng một lớp sơn quá đẹp chỉ để giữ cho bức tranh của mình hoàn hảo.
Nhưng chính vì Baku không hoàn hảo nên những điều tử tế tôi gặp ở đây càng trở nên có giá trị. Một người giúp ta giữa lúc ta đang lúng túng chỉ có ý nghĩa khi trước đó ta thực sự lúng túng; một người phụ nữ quan tâm đến đồng nghiệp mới sang chỉ đáng nhớ khi ta thực sự đang xa quê; một cử chỉ không vụ lợi chỉ có sức lay động khi người trao nó không hề biết rằng nó sẽ được nhớ mãi. Thành phố thực không cần phải hoàn hảo. Chỉ cần trong những góc chưa hoàn hảo của nó vẫn còn đủ người tốt để người ta tin vào con người.
Những con người làm nên hơi ấm của tình hữu nghị
Đêm cuối ở Baku, tôi đứng bên Caspi khá lâu. Gió vẫn thổi, một thứ gió tưởng như không bao giờ mỏi. Mặt biển mở ra trong bóng tối, thỉnh thoảng hắt lên những vệt sáng từ thành phố. Phía xa, Flame Towers bắt đầu bừng lên. Ba ngọn lửa trên nền trời đêm, nhìn từ xa vừa gần vừa xa, vừa thực vừa như một giấc mơ được dựng bằng ánh sáng.
Tôi đứng đó và nghĩ về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn sáu mươi năm trước, Người đã đến thành phố này. Tôi không biết Người đã nhìn Baku trong một buổi chiều như thế nào, không biết Người đã nghe những câu chuyện gì từ những người Azerbaijan mà Người gặp, nhưng tôi biết chuyến đi ấy đã để lại một dấu mốc trong lịch sử quan hệ giữa hai dân tộc. Hôm nay, khi những người Việt Nam khác đến Baku để làm việc, đầu tư, giao lưu văn hóa, tìm kiếm những cơ hội hợp tác mới, chúng tôi đang bước trên một con đường mà Người đã đặt những viên đá đầu tiên.
Lịch sử có một vẻ đẹp lạ lùng: Nó không bao giờ đứng yên. Một chuyến đi của một con người có thể trở thành ký ức của hai dân tộc; một cuộc gặp của hai nhà lãnh đạo có thể mở ra một chương mới; một tiếng đàn có thể làm cho những người xa lạ ngồi gần nhau hơn. Những điều lớn lao của hôm nay nhiều khi bắt đầu từ những điều rất nhỏ của hôm qua.
Tôi nghĩ về chữ “Đối tác chiến lược”. Đó là một danh xưng lớn và những danh xưng lớn luôn cần những công việc lớn để chứng minh giá trị của mình. Nhưng càng sống ở Baku, tôi càng tin rằng phần sâu nhất của một quan hệ chiến lược không nằm ở cái tên mà nằm ở lòng tin. Lòng tin giữa các nhà nước cần được vun đắp bằng những thỏa thuận; lòng tin giữa doanh nghiệp cần được tạo dựng bằng những dự án; còn lòng tin giữa nhân dân lại được tạo nên từ những cuộc gặp và những cử chỉ tử tế.
Bởi vậy, khi nghĩ về quan hệ Việt Nam - Azerbaijan, tôi không chỉ nghĩ đến những văn kiện được ký dưới ánh đèn của những phòng Hội nghị. Tôi nghĩ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Baku năm 1959; đến những thế hệ người Việt từng học tập và làm việc trong ngành dầu khí tại Azerbaijan; đến chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược; đến những người đang ngày ngày làm việc để biến các thỏa thuận thành những dự án thực; đến đoàn nghệ sĩ Việt Nam mang tiếng đàn, tiếng hát sang Gabala và Baku; đến một người phụ nữ như Reyhan, người đã dùng những việc nhỏ bé của mình để làm cho những người Việt Nam ở đây cảm thấy mình không hoàn toàn xa lạ.

Baku - Thành phố thơ mộng bên bờ biển Caspi là một điểm đến yêu thích của nhiều du khách quốc tế. (Nguồn: Travel Magazine)
Nếu những văn kiện là cây cầu được vẽ trên giấy, thì những con người ấy là những người đang thật sự đi trên cầu. Họ làm cho cây cầu rung lên dưới bước chân, làm cho nó có tiếng nói, có hơi ấm, có kỷ niệm. Và một cây cầu chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta muốn bước sang phía bên kia để gặp nhau.
Gió biển Caspi lúc ấy thổi mạnh hơn. Tôi kéo lại cổ áo và nhìn về phía thành phố. Baku vẫn sáng. Thành cổ nằm trong bóng tối. Những con phố vẫn có người đi. Ở đâu đó, một chuyến metro đang chạy dưới lòng đất; một chiếc taxi đang đưa ai đó trở về nhà; một người mẹ có lẽ đang chờ con; một người công nhân vừa hết ca; một đôi vợ chồng già có thể đang chậm rãi đi dọc đại lộ ven biển. Và có thể, ở một góc nào đó của thành phố, Reyhan cũng vừa khép lại một ngày làm việc của mình.
Ngày mai, Baku sẽ lại thức dậy. Gió sẽ lại từ biển Caspi thổi vào. Những con đường sẽ lại đông. Những cuộc họp sẽ lại bắt đầu. Những công việc của một thành phố đang phát triển sẽ lại tiếp tục. Những mối quan hệ giữa hai đất nước cũng sẽ tiếp tục được viết bằng những cuộc gặp mới, dự án mới, chuyến thăm mới, tiếng nói mới.
Nhưng tôi mong rằng giữa tất cả những điều lớn lao ấy, người ta vẫn đừng quên những điều nhỏ bé. Đừng quên rằng một tình hữu nghị lâu dài không chỉ cần những văn kiện được ký dưới ánh đèn của những phòng hội nghị, mà còn cần những bàn tay chìa ra giữa đời thường. Đừng quên rằng một quan hệ Đối tác chiến lược, suy cho cùng, không chỉ là câu chuyện của các nhà nước; nó phải trở thành câu chuyện của nhân dân, phải đi vào những con phố, những gia đình, những trường học, những nhà hát, những doanh nghiệp, những bữa trà và những cuộc gặp gỡ bình dị.
Bởi đến một lúc nào đó, khi những cái tên của những cuộc hội đàm đã lùi vào lịch sử, khi những văn kiện đã nằm yên trong những tủ hồ sơ, thứ còn lại trong ký ức của con người có lẽ vẫn chỉ là một khuôn mặt, một ánh mắt, một tiếng đàn, một lời hỏi thăm, một lần được giúp đỡ trong lúc mình đang bối rối nơi đất khách. Đó là thứ không cần đóng dấu, không cần phiên dịch và cũng không bao giờ cũ.
Tôi rời Baku với trong hành lý không chỉ có những món quà nhỏ, vài trang ghi chép và những tấm ảnh về thành phố bên Caspi. Tôi mang theo tiếng gió, ánh lửa, những con đường đá của Thành cổ, tiếng đàn tính từ Gabala, tiếng vỗ tay của khán giả Azerbaijan và ký ức về một người phụ nữ tên Reyhan. Nhưng có lẽ thứ tôi mang theo nhiều nhất lại là một cảm giác rất khó gọi tên: Cảm giác biết ơn đối với một thành phố đã từng là nơi mình xa lạ nhưng rồi, bằng những cử chỉ rất bình thường của con người, đã khiến mình bớt xa lạ.
Thủ đô Baku, trong ký ức của tôi vì thế không còn là một điểm trên bản đồ. Nó là một khoảng trời bên Caspi, một khoảng trời đầy gió, một khoảng trời có lửa. Và dưới những ngọn lửa ấy là những con người, bình dị và nhân hậu, đang ngày ngày làm cho cây cầu giữa Việt Nam và Azerbaijan thêm một nhịp bền vững.
Có lẽ sau này, khi nhớ về Baku, tôi sẽ không nhớ trước tiên đến những tòa tháp. Tôi sẽ nhớ một buổi chiều có gió, nhớ mặt biển Caspi, nhớ một người đã dừng lại chỉ đường, nhớ một chiếc thẻ metro được quẹt giúp, nhớ một món quà nhỏ đặt trên bàn làm việc, nhớ tiếng đàn tính vang lên giữa núi rừng Gabala và những tràng pháo tay kéo dài trong đêm. Và tôi sẽ nhớ Reyhan - người phụ nữ Azerbaijan đã giúp những người Việt Nam xa quê hiểu rằng, giữa một thành phố xa lạ, đôi khi chỉ cần một tấm lòng rộng mở là đủ để biến nơi đất khách thành một nơi có chút gì thân thuộc.
Tôi nghĩ, đó cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Không phải để chúng ta nói với nhau rằng chúng ta là những người bạn, mà để đến một ngày, khi đứng ở một thành phố xa xôi bên bờ Caspi, một người Việt Nam có thể thực sự cảm thấy rằng ở đây, mình có những người bạn.
Gió Baku vẫn thổi. Lửa Baku vẫn cháy. Nhưng giữa gió và lửa, thứ ở lại lâu nhất trong tôi không phải là ánh sáng của những tòa tháp, mà là hơi ấm của những con người.
Có những ngọn lửa làm sáng một thành phố. Có những ngọn lửa làm ấm lòng người. Và có lẽ, khi rời Baku, tôi sẽ nhớ nhất ngọn lửa thứ hai - thứ ngọn lửa không nhìn thấy được trên bầu trời, nhưng âm thầm cháy trong lòng người, từ một cử chỉ tử tế này sang một cử chỉ tử tế khác, từ một thế hệ sang một thế hệ, như chính tình hữu nghị Việt Nam - Azerbaijan đang được viết tiếp bằng những điều bình dị mà bền lâu.
Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/ngon-lua-thap-len-nhung-trang-su-duoc-viet-tiep-446357.html
