Ngựa trong đời sống văn hóa Việt Nam

Trong các loài vật nuôi, ngựa mang ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao, vừa gần gũi vừa quan trọng. Loài vật này tạo nên những ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng và tích cực trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Đền Bạch Mã - một trong “Thăng Long tứ trấn”.

Đền Bạch Mã - một trong “Thăng Long tứ trấn”.

Do được sử dụng phổ biến, lâu dài, mang giá trị vật chất đa dạng và mật thiết, nên ngựa cũng tạo nên giá trị tinh thần phong phú, ảnh hưởng sâu rộng đến tâm linh và đời sống văn hóa của người Việt. Tín ngưỡng cổ truyền quan niệm, có nhiều vị thần cưỡi ngựa du hành hoặc cùng ngựa góp sức tạo ra, điều chỉnh, chuyển hóa 5 bản nguyên thế giới, gồm kim (kim loại), mộc (cây cối), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất). Sự năng động của ngựa đôi khi được coi là nguồn gốc hoặc tượng trưng cho sự luân hồi giữa những mặt đối lập của vũ trụ và nhân thế: Sáng - tối, nóng - lạnh, sống - chết, hòa hợp - xung đột...

Ở nhiều địa phương, ngựa là hiện thân của may mắn, hạnh phúc. Mơ thấy ngựa hoặc ra ngõ gặp ngựa là điềm may hoặc gặp được người đang cần tìm. Tại các đình, đền, chùa, hai bên thường thờ đôi ngựa gỗ giống nhau nhưng khác màu (một trắng, một đỏ), tượng trưng cho sự tôn nghiêm và tính cân xứng.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh ngựa xuất hiện vừa phổ biến, đa dạng lại vừa hấp dẫn, sáng tạo. Chúng ta gặp “ngựa” (mã) ở đủ mọi lĩnh vực ngôn từ: Tự nhiên và xã hội, lý thuyết sách vở và giao tiếp thực tiễn. “Sức ngựa” (mã lực) là đơn vị công suất, tương đương một công cần thiết để nâng 75kg lên cao 1 mét trong 1 giây. “Ngựa chứng” là thói ương bướng, ngổ ngáo. “Vành móng ngựa” là chỗ đứng của người bị truy tố, xét xử trước tòa án. “Ghế ngựa” là giường gỗ độc đáo, đóng thành hai tấm hình chữ nhật, kê ghép lại trên hai cái mễ; “Mã tấu” là dao dài, to bản, mũi vát nhọn... Động vật có con bọ ngựa, cá ngựa, sóc ngựa, dơi ngựa, gấu ngựa... Thực vật thì có cây ké đầu ngựa, cỏ roi ngựa, lau đuôi ngựa... Ngựa hiện diện trong nhiều địa danh: Núi Bạch Mã (Huế), núi Mã Yên, Mã Hương, Mã Trường, Thiên Lý Mã (Ninh Bình), sông Mã (Thanh Hóa)… Đèo Mã Pì Lèng (sống mũi ngựa) nằm trong số “tứ đại danh đèo” của miền Tây Bắc. Ở Hà Nội, ngoài phố Kim Mã thì ngựa còn gắn với sự tích đền Bạch Mã - một trong Thăng Long tứ trấn. Tương tự, ở Nghệ An cũng có ngôi đền mang tên Bạch Mã...

Hình tượng ngựa còn xuất hiện trong hàng ngàn câu ngạn ngữ, phương ngữ, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, đồng dao rất sinh động và giàu ý nghĩa. Đặc biệt, ngựa có trong nhiều bài thơ nổi tiếng như “Thành hạ khí mã” (“Con ngựa bỏ ở chân thành” - Nguyễn Du), “Mã thượng mỹ nhân” (“Người đẹp trên lưng ngựa” - Ninh Tốn), “Mòn mỏi” của Thanh Tịnh, “Ngựa thồ” của Hoàng Trung Thông, “Ngựa nông trường” của Yến Lan, “Ngựa hồng” của Chế Lan Viên... Ngựa xuất hiện trong không ít ca khúc được thính giả say mê, chẳng hạn bài hát “Lý ngựa ô” vui nhộn và tình tứ.

Ngựa trở thành nhân vật, phương tiện hoặc đề tài trung tâm của nhiều truyền thuyết, truyện kể, sự tích độc đáo. Kỳ vĩ nhất là truyền thuyết Thánh Gióng, nói về sức mạnh, công lao của người, của ngựa trong truyền thống giữ nước oai hùng. Vào đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân tràn vào xâm lược nước ta. Cậu bé tên Gióng truyền tâu vua cử thợ đúc cho mình một con ngựa sắt khổng lồ. Gióng cưỡi lên, ngựa bỗng hí vang, phun ra lửa, phi như vũ bão đưa Gióng vào chiến trận, đánh tan quân thù. Dẹp xong giặc, Gióng cùng ngựa bay lên trời, để lại tới ngày nay vết chân ngựa là những ao hình tròn nối nhau liên tiếp ở Sóc Sơn (Hà Nội) và những bụi tre do ngựa phun lửa vào nên ngả màu vàng óng (gọi là tre đằng ngà) ở Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ (Bắc Ninh)…

Bức tranh “Ngựa hồng” thuộc dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh).

Bức tranh “Ngựa hồng” thuộc dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh).

Trong hệ lịch can chi 12 con vật, ngựa mang biểu tượng chi Ngọ - một chi quan trọng, mang những ý nghĩa triết lý và nhân văn sâu sắc. Giờ Ngọ kéo dài từ 11h - 13h, khoảng thời gian sáng sủa nhất trong ngày (chính Ngọ là đúng 12h trưa, lúc mặt trời ở vị trí thẳng trên đỉnh đầu). Tháng con ngựa là tháng Năm âm lịch, giữa mùa hạ, cây cối xanh tốt, sung mãn nhất, ra hoa kết quả nhiều nhất, con người cũng dồi dào sinh lực nhất. Quan niệm tín ngưỡng còn cho rằng người tuổi Ngọ thường năng động, tài giỏi, thành đạt và gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong đời. Câu ca dao “Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi/ Riêng tôi ngậm ngùi mang lấy tuổi Thân” có xuất phát từ đó.

Hình ảnh ngựa trở nên sinh động, gần gũi hơn qua những trò chơi và lễ hội truyền thống. Trẻ em ở ta thuở xưa đến tận bây giờ vẫn thích thú chơi trò “cưỡi ngựa vật nhau”, chúng chia làm hai đội, mỗi đội gồm 3 đứa, trong đó 1 đứa là “kỵ sĩ”; 2 đứa kết thành “ngựa” diễu quanh sân, những đứa trẻ còn lại đi theo sau cổ vũ và cùng hát: “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”. Sau khi diễu ba vòng, bọn trẻ tản ra xếp thành hình tròn để hai “kỵ sĩ” cưỡi “ngựa” bá cổ vật nhau, bên nào không vững, ngã xuống đất trước là bên ấy thua. Người lớn thì ngoài đua ngựa còn tổ chức trò phi ngựa bắn cung, múa trên lưng ngựa, cưỡi ngựa nấu cơm... như một hình thức sinh hoạt văn hóa - thể thao hấp dẫn, thể hiện tinh thần thượng võ, đồng thời cũng tạo nhịp cầu giao lưu, kết bạn, kết duyên. Các lễ hội dân gian tại nhiều nơi có cưỡi hoặc rước ngựa rất tưng bừng, náo nhiệt như hội Gióng, hội Kẻ Giá, hội Bà Chúa Ngựa...

Ở một phương diện khác, tĩnh lặng nhưng phong phú, bền vững là hình tượng ngựa trong kiến trúc, tạo hình, trang trí. Ngựa được thể hiện đa dạng trên tranh, bia, miếu, đình, đền, chùa, nhà thờ, cung điện, công sở… với đủ loại chất liệu: Đất, đá, vữa, gỗ, đồng... và bằng nhiều kỹ thuật: Tạc, đắp, nặn, chạm, khắc, đúc, nung, vẽ... Người ta đã tìm thấy tượng ngựa gốm trong các ngôi mộ cổ thế kỷ IV - V tại Chương Mỹ (Hà Nội), bức phù điêu chạm khắc ngựa rất đẹp vào thế kỷ IX ở Trà Kiệu (Đà Nẵng). Tại chùa Phật Tích (Bắc Ninh), có đôi ngựa đá lớn làm từ thế kỷ XI, dáng căng tròn, sung mãn. Vào thời kỳ này cũng có nhiều tượng ngựa bằng gốm nơi đình, đền, chùa và trên các bàn thờ gia đình. Nhưng phải tới thế kỷ XV, nghệ thuật trang trí, tạo hình ngựa mới phát triển đa dạng, rầm rộ. Ngựa vũ trụ với hai cánh chéo trên lưng mang ý nghĩa “con vật chở bầu trời đi” có ở đình Tây Đằng (Hà Nội). Tại bệ tượng chùa Trà Phương (Hải Phòng) hiện diện con long mã (đầu rồng thân ngựa)...

Từ thế kỷ XVII, hình tượng ngựa ngày càng phổ biến, có khi được tạc bằng đá, tầm vóc lớn hơn ngựa thực tế (như ở mộ Quận Đăng, Thanh Hóa, năm 1629), hoặc nhóm tượng rất đẹp cùng với giám mã (ở đình Hương, Bắc Ninh, đầu thế kỷ XVIII). Các bức chạm khắc ngựa trong cảnh vinh quy, du hành, chiến trận thấy ở đình Hoành Sơn, đền Tam Lang (Hà Tĩnh), cảnh cưỡi ngựa đấu võ ở đình Nội (Bắc Ninh). Trong rất nhiều đình, đền, chùa vẫn thờ cặp tượng gỗ bạch mã - xích mã (ngựa trắng - ngựa đỏ), bức chạm khắc vân mã (ngựa bay trên mây) hoặc mã hầu (khỉ cưỡi ngựa)... Tranh vẽ ngựa cũng xuất hiện khá sớm, nay còn trên bản khắc gỗ tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) các bức địa mã (ngựa ăn cỏ), tòng giá (theo hầu ngựa), tỳ giá (dong ngựa). Ngựa cũng xuất hiện nhiều trong dòng tranh cổ truyền Hàng Trống (Hà Nội), tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), đặc biệt là hình tượng ngựa đã thu hút năng lực sáng tạo của không ít họa sĩ Việt Nam hiện đại.

Anh Hùng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ngua-trong-doi-song-van-hoa-viet-nam-733677.html