Ngựa - trong ngôn ngữ đời sống người Việt

'Ngựa' là một từ thuần Việt, vì vậy, những từ ngữ, câu nói liên quan tới ngựa mang tính biểu trưng đều có nguồn gốc phương Nam và văn hóa Việt Nam. Theo tư duy ngôn ngữ biểu tượng này, tiếng Việt sản sinh hàng loạt từ ngữ biểu thị tính cách con người liên quan tới ngựa: ngựa chứng, ngựa hí, ngựa hoang, ngựa quen đường cũ, ngựa bất kham, vành móng ngựa, thân trâu ngựa, kiếp trâu ngựa, thẳng ruột ngựa, ngựa non háu đá, đường dài mới hay sức ngựa, cưỡi ngựa xem hoa…

1. Chữ "mã" (ngựa) trong Hán văn là chữ tượng hình, phác họa hình dáng của ngựa. Mã là một từ Hán Việt (từ Việt mượn Hán), do vậy, có nguồn gốc phương Bắc. So với phương Nam, phương Bắc vốn xuất phát từ nền văn minh du mục và nông nghiệp cạn, những cuộc di chuyển trên thảo nguyên bao la hay trên những con đường thiên lý đòi hỏi họ phải quý trọng con ngựa. “Nam di chu, Bắc di mã” (người phương Nam di chuyển bằng thuyền, người phương Bắc di chuyển bằng ngựa) là một minh chứng sống động nhất. Vì thế, người phương Bắc dùng nhiều mỹ từ để diễn tả con vật của mình, nào là “tuấn mã”, “kim mã”, nào là “bạch mã”, “long mã” và gắn ngựa với ý nghĩa may mắn: “mã đáo thành công”. Khi xử lý một tên tội đồ, người ta dùng chiêu “tứ mã phanh thây”. Khi nói về kinh nghiệm đường đời, họ nói “Lão mã thức đồ” (Ngựa già biết rõ đường đi lối về)... Như vậy, những từ ngữ, câu nói liên quan tới “mã” trong tiếng Việt hoặc đều có nguồn gốc phương Bắc hoặc do tiếp xúc với văn hóa phương Bắc mà thành. Những cách nói hoa mỹ như: thiên lý mã để chỉ những con ngựa chạy nhanh nghìn dặm, lạm phát phi mã (chỉ sự lạm phát không kiềm chế nổi), đơn thương độc mã (một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai)... đều là sản phẩm của sự giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ.

Có thể nhận thấy, từ văn hóa, chúng ta có thể hiểu thêm về cuộc sống xã hội trong ngôn ngữ, và từ ngôn ngữ, chúng ta cũng tìm về những giá trị văn hóa đặc sắc vì ngôn ngữ chính là “linh hồn của dân tộc”. Từ ngôn ngữ đến văn hóa hay từ danh xưng đến biểu tượng, các từ ngữ đó phải trở thành các word-symbols (từ - biểu tượng). Những từ - biểu tượng này không phải mang trong nó tất cả ý nghĩa của “mẫu gốc” của một nền văn hóa mà tùy theo sự tri nhận của mỗi dân tộc mà chỉ một số ý nghĩa biểu tượng của “mẫu gốc” được hiện thực hóa ở các từ - biểu tượng. Chính điều này tạo nên một sự khác biệt về cấp độ trong sự chuyển hóa của các “mẫu gốc” thành các biểu tượng ngôn ngữ - văn hóa ở các dân tộc khác nhau, trong đó có văn hóa Việt, tiếng Việt và người Việt.

2. Ngựa là con vật chạy nhanh, nên được dùng biểu trưng cho sự nhanh nhẹn. Để diễn tả một hành động được tiến hành nhanh chóng, ngoài các thành ngữ Nhanh như sóc, Nhanh như cắt, người Việt liên tưởng đến ngựa: “Nhanh như ngựa”, “Chạy như ngựa”, “Nhanh như ngựa chạy trạm”. Sự nhanh nhẹn là đặc tính vốn có của loài ngựa, dó đó, dân gian đã ví ngựa chạy nhanh đến nỗi đuổi kịp gió qua thành ngữ “Ngựa truy phong” mà Nguyễn Du đã dùng lại trong "Truyện Kiều": “Rằng ta có ngựa truy phong - Có tên dưới Trướng vốn dòng kiện nhi”. Ngoài sự nhanh nhẹn, ngựa là loài vật có sức bền bỉ. Ngày xưa, xe ngựa là một phương tiện giao thông điển hình. Từ thực tế cuộc sống này, người Việt đã đúc rút nên những kinh nghiệm sống qua tính chất của loài ngựa: “Ngựa mạnh chẳng quản đường dài”, “Đường dài mới hay sức ngựa” với hàm ý trong cuộc sống cần phải có dịp thử thách lâu dài, kiên trì, bền bỉ thì mới biết đúng đắn được bản chất con người.

Người Việt rất tinh tế trong cách nhìn nhận và đánh giá con người. Để biểu trưng cho sự ngạo mạn, kiêu căng, thích đối đầu nhưng không lượng được sức mình, người Việt dùng hình ảnh “Ngựa non háu đá” hay “Ngựa con háu đá”. Hay khi muốn biểu đạt những điều lặp lại những hành động sai lầm đáng tiếc do thói quen khó bỏ, dân gian lại liên tưởng đến hình ảnh biểu trưng “Ngựa quen đường cũ”, “Ngựa chạy đường quay”. Do ngựa vốn là loài có nhiều tật chứng nên người có tính ương bướng không ai quản thúc nổi thì bị gán “Ngựa bất kham”. Đối với loài ngựa, người chủ phải có dây cương để điều khiển và quản giáo. Do vậy, để nói về hoàn cảnh xã hội không bình đẳng, người vợ bị người chồng áp bức, quản thúc trong xã hội cũ, hay sự ràng buộc về luân thường đạo lý của người phụ nữ đã có chồng, không liên tưởng nào hay hơn cách nói “Có chồng như ngựa có cương” của người Việt.

Ngựa gắn liền với lính chiến và trận mạc, cho nên nó còn là biểu trưng cho chốn xa xôi cách trở ngàn trùng nơi biên ải. Cái cảnh “dặm nghìn da ngựa” luôn liên tưởng đến sự xông pha nơi chiến trường, vất vả khó khăn, cũng là nơi thử thách chí làm trai thời chinh chiến: “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa - Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” (Chinh phụ ngâm), không ngại cảnh “Da ngựa bọc thây” với tâm trạng đầy hào khí nam nhi, cũng như cảnh chia li “Ngựa Hồ, chim Việt” giữa chinh phụ và chinh phụ. Tất cả những đấng nam nhi đi qua cuộc đời Kiều đều hơn một lần ngồi trên lưng ngựa. Kim Trọng cưỡi ngựa đeo chuông, Sở Khanh cưỡi ngựa truy phong, Từ Hải cưỡi ngựa chiến đeo gươm… Quả thật, Nguyễn Du đã dùng tới 13 lần trong 12 câu để khắc họa những con ngựa rất tài hoa. Từ cảnh đông vui “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” (câu 48), “Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn” (câu 1118), cảnh “Khách đà xuống ngựa đến nơi tự tình”(câu 142), “Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo” (câu 168)… đến tâm thế uy nghiêm của đấng nam nhi trên yên ngựa: “Rằng: ta có ngựa truy phong” (câu 1107), “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” (câu 2216)… Nhưng có lẽ, hình ảnh chủ đạo của con ngựa trong "Truyện Kiều" vẫn nhuốm màu ly biệt và cách trở nghìn trùng: “Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san, Dặm hồng bụi chốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” (câu 1519-1522).

Thật vậy, khám phá ý nghĩa biểu trưng của ngựa trong ngôn ngữ và văn hóa là con đường tìm về những liên tưởng thú vị nhất về loài vật này trong tâm thức Việt. Ngựa gần gũi với cuộc sống con người, nên quá trình biểu trưng hóa “ngựa là tính cách, tình cảm, số phận của con người”, lẽ dĩ nhiên, là sự liên tưởng đầy tính nhân văn và nghiệm thân. Trong cuộc đời, cầu mong cho mọi người thoát cảnh làm “Thân trâu ngựa”, “Kiếp trâu ngựa”, tránh xa “Vành móng ngựa”, và những kẻ “Đầu trâu mặt ngựa”, để cùng nhau đoàn kết, tương thân “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Nghĩ về biểu tượng ngựa trong văn hóa và ngôn ngữ, người viết cũng chỉ là “Cưỡi ngựa xem hoa” trong thế giới biểu tượng phong phú và huyền bí. Cổ nhân đã dạy: “Muốn đi xa phải giữ gìn sức ngựa”, dẫu rằng “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (một lời nói ra bốn ngựa khó theo) nhưng với tấm lòng “Thẳng như ruột ngựa”, kính chúc mọi người một năm mới “Mã đáo thành công”.

PGS.TS Trần Văn Sáng (Trường Đại học Sư phạm, ĐH Đà Nẵng)

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/van-hoa-giai-tri/ngua-trong-ngon-ngu-doi-song-nguoi-viet_189190.html