Người anh hùng thầm lặng của Binh chủng Đặc công

Bài viết phối hợp cùng hệ thống hình ảnh tư liệu sống động khắc họa trọn vẹn chuỗi chiến công vang dội tại trận tập kích Tổng kho Long Bình (Đồng Nai) ngày 13/8/1972 và cuộc sống đời thường đầy thăng trầm của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Văn Sơn (phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên) . Bằng tư duy mưu trí của một lính Đặc công luồn sâu thuộc Lữ đoàn 113, đồng chí đã lập nên những kỳ tích chấn động làm tiêu hao sinh lực địch . Trở về với cuộc sống đời thường, dù mang trên mình thương tật chiến tranh và trải qua nhiều mất mát lớn lao trong gia đình, ông vẫn giữ vững bản lĩnh sắt đá, sống giản dị và đậm đà nghĩa tình đồng đội

Trước khi trực tiếp gặp mặt, Thành Đô đã từng được nghe biết về những trận đánh lớn,của Trung đoàn Đặc công 113 qua lời kể đầy tự hào của các bậc thủ trưởng tiền bối trong đơn vị . Đó là những ký ức vô giá từ Anh hùng Đỗ Văn Ninh (nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Đặc công) và Đại tá Nguyễn Văn Tải (nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc công 113) . Hai vị thủ trưởng chính là những người trực tiếp tham mưu, chỉ đạo và chỉ huy nhiều trận đánh lớn của Binh chủng .

Trong số các chiến công oanh liệt đó, có một trận đánh đã đi vào sử sách của Bộ đội Đặc công: Trận tập kích Tổng kho Long Bình ngày 13 tháng 8 năm 1972 . Trong trận đánh huyền thoại làm rúng động dinh lũy kẻ thù năm ấy, Anh hùng Ngô Văn Sơn và Anh hùng Hồ Văn Sinh chính là những người giữ vai trò Mũi trưởng và Mũi phó, trực tiếp dẫn quân luồn sâu vào tử địa

Chính vì vậy, khi bài bút ký mang tên "Cuộc chiến sau thời đạn bom" của tác giả Tiết Minh Hà viết về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Ngô Văn Sơn được đăng tải trên mạng xã hội và trang "Trái tim người lính", Thành Đô đã  nhận ra người thủ trưởng, người đàn anh kính mến của mình . Nhờ nhịp cầu nối nghĩa tình của vợ chồng anh CCB thương binh Đỗ Xuân Thành và tác giả Tiết Minh Hà, Thành Đô đã có cơ hội trở về Thái Nguyên để thăm lại người Anh đồng đội cũ năm xưa

Đồng chí Ngô Văn Sơn là người dân tộc Kinh, quê ở xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái (nay là phường Linh Sơn,, tỉnh Thái Nguyên) .

Đội hình những người lính Đặc công kiên trung năm xưa sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc .(Anh hùng Ngô Văn Sơn mặc áo sáng đứng giữa tại đại hội anh hùng chién sỹ thi đua ngày 3/6/1976.)

Đội hình những người lính Đặc công kiên trung năm xưa sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc .(Anh hùng Ngô Văn Sơn mặc áo sáng đứng giữa tại đại hội anh hùng chién sỹ thi đua ngày 3/6/1976.)

1. Từ thao trường học tập đến chiến trường khốc liệt

Năm 1966, khi vừa bước sang tuổi 19 đầy hoài bão, chàng trai trẻ Ngô Văn Sơn đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ . Bước vào quân ngũ, ông được biên chế vào Đoàn 250 thuộc Quân khu Việt Bắc, sau đó chuyển sang Trung đoàn Đặc công 426  Quãng thời gian huấn luyện kỹ chiến thuật Đặc công kéo dài tới 3 năm tại khu vực Cao Xà Lá (Hà Đông) là một thử thách cực kỳ khắc nghiệt đối với các tân binh

Ông bảo: "Chúng tôi không ngại khó, ngại khổ huấn luyện mà là 'nóng ruột' khi chiến tranh đang giai đoạn khốc liệt, người người vào Nam chiến đấu còn mình vẫn mãi ở hậu phương  Chính vì vậy, mấy anh em quyết tâm xin lên đường dù đơn vị có kế hoạch cho học lớp trung đội trưởng

Năm 1969, với cấp bậc Trung sĩ, Trung đội phó Đặc công, đồng chí Ngô Văn Sơn cùng đơn vị chính thức nhận lệnh hành quân vượt dãy Trường Sơn vào Nam chiến đấu  Đơn vị của ông đã tham gia tác chiến, lăn lộn khắp các địa bàn gian khổ từ Bình Dương, Phước Long cho đến Tuy Hòa...

– Được coi là đơn vị đặc công “nòi”, lại có lợi thế được trải qua thời gian huấn luyện rất kỹ ở hậu phương nên anh em bước vào chiến trường vô cùng tự tin  Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất lúc bấy giờ chính là kinh nghiệm thực chiến thực tế chưa nhiều . Thậm chí, nhiều trang thiết bị kỹ thuật mang từ miền Bắc vào như loại kìm cắt rào kẽm gai lại hoàn toàn không sử dụng được trước hệ thống rào gai kiểu mới của địch – Anh hùng Ngô Văn Sơn chia sẻ

Trận đánh đầu tiên của đơn vị là thọc sâu vào căn cứ Trảng Tranh (Biên Hòa), nơi có một tiểu đoàn quân Ngụy Sài Gòn chốt chặn nghiêm ngặt  Các nhóm trinh sát được lệnh chia thành 3 mũi để tổ chức khảo sát địa hình . Ông Sơn cùng một đồng đội đảm nhiệm tiến công từ hướng Tây Bắc  Tuy nhiên, khi áp sát vào hàng rào thép gai và sử dụng kìm cắt rào, hệ thống kìm bị vô hiệu hóa, anh em buộc phải chuyển sang phương án dùng thân người chống rào để chui qua . Khi tiếp cận đến lớp hàng rào thứ 5 thì mũi trinh sát không may vướng phải mìn bẫy và pháo sáng của địch  Trận đánh nổ ra bất ngờ, một vài đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh và bị thương  Đó cũng chính là nỗi đau đớn, day dứt khôn nguôi theo ông Sơn suốt cả cuộc đời

2. Những chiến công oanh liệt nơi "tử địa" Long Bình

Sau thất bại đau xót ở trận đầu, ông Sơn và các đồng đội càng thêm quyết tâm sửa sai  Đơn vị bắt đầu bằng việc nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh, lao vào luyện tập rèn quân và học hỏi từ những chi tiết kỹ thuật nhỏ nhất như phương pháp cắt rào trong im lặng

Chân dung kiên nghị thời trẻ của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Văn Sơn- Ảnh : Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113

Chân dung kiên nghị thời trẻ của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Văn Sơn- Ảnh : Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113

Tháng 3 năm 1970, đơn vị nhận mật lệnh tổ chức trinh sát Chiến đoàn 9 Ngụy đang đóng quân trú chốt tại thị trấn Chơn Thành (Bình Phước) . Tổ trinh sát Đặc công gồm 10 người, có bộ đội địa phương dẫn đường tiếp cận cứ điểm . Ở trận đánh này, ông Sơn dẫn đơn vị chiến đấu luồn sâu vào tận lõi căn cứ địch, còn bản thân ông chịu trách nhiệm chỉ huy mũi đánh sập chốt bảo vệ đường băng sân bay

Nhờ công tác điều nghiên kỹ lưỡng, toàn bộ 63 chiến sĩ Đặc công đã mưu trí lọt qua hệ thống phòng thủ, áp sát các mục tiêu cốt tử để hiệp đồng tác chiến  Tiếng nổ của 3 kg thuốc nổ đặt tại Sở chỉ huy địch phát hỏa làm hiệu lệnh tiến công, chỉ trong vòng 1 tiếng đồng hồ dập bão lửa, toàn bộ căn cứ của địch đã bị san phẳng, tiêu diệt tại chỗ 450 tên địch . Trên đà thắng lợi, đơn vị tiếp tục mở đánh thêm 1 đại đội Ngụy ở căn cứ Cây Cầy cách đó hơn 1 km .

Cuối năm đó, cấp trên tiếp tục hạ chỉ lệnh chiến lược: Phải đánh hiểm vào Tổng kho Long Bình (Biên Hòa) – kho hậu cần quân sự khổng lồ của Mỹ và Ngụy Sài Gòn

Đại đội Đặc công được giao nhiệm vụ mở mũi trinh sát, đột nhập vào khu vực Đồi 53 . Sau khi khảo sát kỹ lưỡng địa bàn, ông Sơn đã táo bạo đề xuất một phương án tác chiến mưu trí: Sử dụng loại lưỡi cưa nhỏ có quấn chặt vải xung quanh để từ từ cưa phá khóa cửa kho chứa đạn, giúp đặt các khối thuốc nổ vào bên trong mà tuyệt đối không gây ra một tiếng động nhỏ nào nhằm qua mắt lính gác .. Trận đánh kết thúc thắng lợi trọn vẹn, toàn bộ anh em rút ra an toàn, quân ta phá hủy hoàn toàn hơn 6.000 tấn đạn pháo cùng nhiều phương tiện cơ giới của địch

Sau khi Trung đoàn 113 Đặc công thành lập Đại đội Trinh sát 53, đồng chí Ngô Văn Sơn vinh dự được điều động về làm Đại đội trưởng đầu tiên của đơn vị .

Vào ngày 13 tháng 8 năm 1972, mặc cho quân địch tăng cường canh phòng cẩn mật, Ngô Văn Sơn vẫn dũng cảm một mình vượt qua 10 lớp hàng rào gai dày đặc và 3 tuyến đường có lính tuần tra dưới ánh điện sáng choang để trinh sát tỉ mẩn địa hình  Khi đánh, đồng chí trực tiếp dẫn đường đưa người chiến sĩ lọt vào tận khu vực lõi kho để đặt mìn rồi rút ra ngoài an toàn . Trận đánh hiệp đồng mở màn đại thắng, phá hủy hoàn toàn 130 nhà kho chứa 5.430 tấn bom đạn, trên 200 tấn thuốc nổ, thiêu cháy 1 kho xăng dự trữ rộng lớn với dung tích gần một triệu lít, phá sập 1 nhà xưởng cơ khí và 17 dãy nhà lính, đồng thời tiêu diệt và làm bị thương gần 300 tên địch . Riêng cá nhân đồng chí Sơn đã tự tay phá hủy được 9 kho bom đạn .

Tháng 12 năm 1972, ông trực tiếp chỉ huy một tổ biệt kích đánh thẳng vào khu vực Kho 50, phá hủy hàng loạt xe thiết giáp và xe cơ giới  Sáng hôm sau, Đài phát thanh BBC (Anh) đã phải đưa tin hỏa tốc: "Một tổ đặc nhiệm cảm tử của Việt Cộng đã bí mật đặt mìn, phá hủy ít nhất 101 xe và thiết bị quân sự của liên quân tại Long Bình" .

Tiếp đó, trong trận đánh bãi xe địch ở Long Bình ngày 15 tháng 12 năm 1972, Ngô Văn Sơn chỉ huy 7 chiến sĩ mưu trí vượt qua nhiều lớp rào phòng thủ, đặt thành công 61 quả mìn định giờ, phá hủy 200 xe quân sự . Riêng bản thân ông đã tự tay phá hủy được 20 chiếc, sau trận đánh toàn đơn vị rút ra ngoài an toàn tuyệt đối

Tính chung từ năm 1969 đến năm 1974, đồng chí Ngô Văn Sơn đã kiên cường bám trụ, liên tục tổ chức đánh địch ngay trong lòng Khu liên hợp quân sự Long Bình . Đồng chí đã trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu 9 trận lớn, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh quan trọng  Riêng cá nhân ông đã tiêu diệt 40 tên địch, phá hủy 9 kho bom đạn, 20 xe quân sự và 14 dãy nhà lính

3. Ấm áp tình đồng đội và những nốt trầm thời chiến

Kinh qua hàng chục trận đánh oanh liệt giữa thánh địa của giặc, nhưng ông Sơn lại bị thương vào một thời điểm và hoàn cảnh không ngờ nhất Đó là vào tháng 11 năm 1974, tại khu vực Tân Uyên (Bình Dương)  Lúc bấy giờ, trên cương vị là Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Đặc công 23 thuộc Trung đoàn Đặc công 113, ông nhận được báo cáo từ chiến sĩ trinh sát về việc không thể tìm đường tiếp cận mục tiêu vượt sông

Quyết không để nghẽn mạch chiến dịch, ông Sơn quyết định tự mình trực tiếp đi khảo sát thực địa. Sau 2 đêm mật tập nắm chắc địa thế, trên đường quay trở ra, ông phát hiện đồng chí chiến sĩ đi phía trước vô tình vướng phải mìn bẫy của địch . Chỉ kịp dùng hết sức kéo giật đồng đội lùi lại thì một tiếng nổ chát chúa đã vang lên ngay dưới chân ông

– Lúc bấy giờ, tôi hoàn toàn không có cảm giác đau đớn gì cả, chỉ đến khi định bước hẫng về phía trước thì mới kinh hoàng nhận ra mình đã bị sức nổ phạt mất nguyên cả bàn chân trái  Tôi vội vã dùng chiếc quai súng tiểu liên buộc chặt vào đùi để tạm thời cầm máu   Ngay lập tức, một đồng chí chiến sĩ ở phía ngoài lao vào cõng chặt lấy tôi, hai anh em cứ thế chịu trận, băng qua làn đạn xối xả của địch để trở về đơn vị an toàn, – Ông Sơn xúc động kể lại

Trước khi được chuyển lên tuyến sau để đi điều trị thương tật, nằm trên cáng thương, ông Sơn còn kịp dặn dò anh em và mở chiếc hòm cá nhân, đem toàn bộ những kỷ vật, vật dụng mà mình được cấp trên khen thưởng mỗi lần lập chiến công để chia tặng lại cho các chiến sĩ trong đơn vị nhằm khích lệ tinh thần anh em .

Với những cống hiến xuất sắc và tinh thần quả cảm vô song, đồng chí Ngô Văn Sơn đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 3 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, 4 lần được tuyên dương Dũng sĩ cùng nhiều bằng khen cao quý khác . Ngày 3 tháng 6 năm 1976, đồng chí Ngô Văn Sơn vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Những cựu chiến binh Đặc công thế hệ đàn anh gặp mặt, tri ân lịch sử vẻ vang của Binh chủng .Ảnh 4 anh hùng của Lữ đoàn Đặc công 113. . Từ trái qua phải : -Trung tướng anh hùng LLVTND Đào Văn Quân ( thứ 1) -Đại tá ,Anh hùng LLVTND Ngô Văn Lủi, đứng ( thứ 2) ,Đại tá,Anh hùng LLVTND Lương Văn Hạt (thứ ba) ,Thượng tá,Anh hùng LLVTND Ngô Văn Sơn ( thứ 4 ) Ảnh chụp tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Lữ đoàn Đặc Công bộ 113(3/6/1972-36/2022).- Ảnh : Đào Văn Quân

Những cựu chiến binh Đặc công thế hệ đàn anh gặp mặt, tri ân lịch sử vẻ vang của Binh chủng .Ảnh 4 anh hùng của Lữ đoàn Đặc công 113. . Từ trái qua phải : -Trung tướng anh hùng LLVTND Đào Văn Quân ( thứ 1) -Đại tá ,Anh hùng LLVTND Ngô Văn Lủi, đứng ( thứ 2) ,Đại tá,Anh hùng LLVTND Lương Văn Hạt (thứ ba) ,Thượng tá,Anh hùng LLVTND Ngô Văn Sơn ( thứ 4 ) Ảnh chụp tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Lữ đoàn Đặc Công bộ 113(3/6/1972-36/2022).- Ảnh : Đào Văn Quân

4. "Trận chiến" âm thầm và những vết xước cuộc đời thời bình

Những năm sau ngày giải phóng, do vết thương cũ liên tục tái phát hành hạ, ông phải chuyển về Bệnh viện Quân y 91 để làm phẫu thuật tới lần thứ năm, và cuối cùng các bác sĩ buộc phải chỉ định cưa bỏ một phần chân trái của ông . Chính tại khoa điều trị này, ông đã gặp một cô nữ sinh thực tập quân y luôn dành cho ông sự quan tâm và chăm sóc ân cần, chu đáo Qua những lần trò chuyện, ông hạnh phúc nhận ra cô ấy cũng là người đồng hương Thái Nguyên, thậm chí người chị gái của cô ấy lại vốn học cùng lớp cấp hai với ông năm xưa

Sự trùng hợp kỳ diệu ấy đã xóa tan đi mọi nỗi ngại ngùng, mặc cảm ban đầu của người thương binh . Từ đấy, hai người thường xuyên gặp gỡ, chuyện trò tâm sự rồi tình cảm cũng tự nhiên nảy sinh . Nhưng vốn là người nhút nhát, ít nói nên ông cứ chần chừ mãi chưa từng dám chủ động thổ lộ, để cuối cùng cô ấy đành phải là người chủ động dũng cảm lên tiếng trước

Đến năm 1980, một đám cưới tập thể đầm ấm, giản dị và đúng chất lính đã được tổ chức trong niềm chúc phúc của đồng đội  Cưới nhau xong xuôi, ông vẫn phải tiếp tục sống cảnh xa nhà biền biệt do nhiệm vụ đơn vị  Mỗi tuần, ông chỉ được phép đạp xe về thăm vợ con vào chiều thứ Bảy, đến chiều Chủ nhật đã phải vội vã khoác ba lô lên lại đơn vị . Rồi ba đứa con lần lượt ra đời, phần lớn mọi công việc quán xuyến gia đình đều một tay người vợ hiền tần tảo ở quê nhà chăm sóc . Biết bao nhiêu nỗi vất vả, nhọc nhằn của vợ mà ông ở xa không thể thường xuyên có mặt để giúp đỡ, sẻ chia  Nhiều lúc thương vợ, thương con thắt lòng mà người lính chỉ biết im lặng giấu kín vào tận đáy lòng

Đến tháng 1 năm 1992, ông chính thức nhận quyết định nghỉ hưu . Ngày cầm sổ hưu, ông thầm nghĩ bụng từ nay mình sẽ có thời gian thường xuyên ở nhà để giúp đỡ vợ công việc gia đình, phụ quán xuyến và bảo ban con cái học hành để cô ấy có thời gian được nghỉ ngơi sau ngần ấy năm vất vả  Nhưng người anh hùng Đặc công không thể ngờ rằng, mình lại phải bắt đầu âm thầm bước vào một trận chiến mới đầy nghiệt ngã...

Thời gian này, sức khỏe của người vợ hiền ngày một giảm sút, bà phải thường xuyên nằm điều trị tại bệnh xá của đơn vị. Thấy tình hình chạy chữa mãi không thuyên giảm, ông khuyên vợ đi khám kỹ ở tuyến trên thì rụng rời chân tay khi bác sĩ phát hiện bà đã bị ung thư giai đoạn cuối

Tin dữ dội dội xuống như một tiếng nổ lớn trong đầu người lính già . Tôi cố gắng nuốt ngược những giọt nước mắt vào trong, mỉm cười để động viên vợ, nhưng trong lòng không thể nén nổi những tiếng nấc thầm cay đắng . Mười hai năm nghĩa vợ chồng sống bên nhau, yêu thương nhau còn chưa đủ . Trong khi cô ấy đã hy sinh cho bố con tôi cả tuổi thanh xuân và sức khỏe, để rồi giờ đây, đứng trước những giờ phút cuối cùng của người vợ yêu thương, tôi vẫn phải cắn răng, âm thầm chịu đựng nỗi đau xé lòng để cô ấy được an lòng nhắm mắt xuôi tay ra đi...

Vì các con thời điểm đó còn quá nhỏ dại, nên ban ngày tôi làm mọi việc. Phần để có tiền nuôi dạy các con khôn lớn trưởng thành, học hành nên người như tâm nguyện lúc lâm chung của vợ; phần thì tôi muốn vắt kiệt sức lực của mình để tạm quên đi nỗi đau đớn, cô đơn quá lớn trong lòng . Chỉ đến khi đêm về, khi không gian trở nên tĩnh mịch, tôi lại một mình lầm lũi đối diện với tấm di ảnh của người vợ hiền...

5. Khúc tráng ca nghĩa tình đồng đội

Thành Đô thuộc lớp thế hệ chiến sĩ Đặc công của Lữ đoàn 113 nhập ngũ sau ngày 30/4/1975 .  Những lần về thăm đơn vị cũ , mỗi lần bước chân vào căn nhà truyền thống, nhìn lên bảng vàng Lịch sử Lữ đoàn Đặc công bộ 113 và ngắm nhìn khung hình của 12 cá nhân anh hùng, Thành Đô và các chiến sĩ trẻ luôn dành sự thần tượng, lòng biết ơn sâu sắc đến các bậc đàn anh lớp trước  Các anh chính là tấm gương ngời sáng, là nguồn động lực to lớn để các thế hệ chiến sĩ mai sau soi mình học tập và noi gương 

Thành Đô lặn lội lên thăm lại người anh, người đồng đội ở đơn vị cũ cùng Lữ đoàn Đặc công 113 – một đơn vị ba lần vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng (vào các năm 1975, 1979 và 2000)

Nghĩa tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa cựu chiến binh Thành Đô (bên phải) và Anh hùng thương binh Ngô Văn Sơn (bên trái )

Nghĩa tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa cựu chiến binh Thành Đô (bên phải) và Anh hùng thương binh Ngô Văn Sơn (bên trái )

Giờ phút chia tay Anh hùng LLVTND Ngô Văn Sơn, Thành Đô bồi hồi kính tặng ông 4 câu thơ thay cho lời tri ân sâu sắc từ tận đáy lòng:

“Một thời máu đổ vì non nước
Anh trở về mang nỗi đau riêng
Vết thương cũ hằn trong tâm lặng lẽ
Mà nghĩa tình sánh tựa bình minh.”

Thành Đô

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/nguoi-anh-hung-tham-lang-cua-binh-chung-dac-cong-a35524.html