Về xứ 'ngũ Càng' mùa lũ
Nói đến vùng đất phía Bắc nơi cuối dòng Ô Lâu thuộc địa bàn xã Nam Hải Lăng, là nói đến cảnh sắc và con người mang nét đặc thù riêng của một miền quê sông nước. Trong đó, những xóm nhỏ ẩn mình sau lũy tre xanh giữa đồng bãi bao la được gọi là “Càng” luôn có sức cuốn hút đến kỳ lạ.
Vùng đất này thấp hơn mặt nước biển ước chừng khoảng một mét, ôm trọn năm “Càng” lớn nhỏ; xa nhất là Càng Hội Điền và đẹp nhất chính là Càng Cây Da. Nằm soi mình bên dòng Ô Giang, mỗi khi chiều về, tiếng chuông nhà thờ Cây Da lại ngân vang trong gió, như lời cầu nguyện cho nơi này vẫn giữ mãi vẻ đẹp hồn hậu, yên bình với thời gian.

Càng Hội Điền, nơi sinh sống của gần 40 gia đình thuộc xã Nam Hải Lăng, Quảng Trị - Ảnh: P.T.L
Hàng năm, khoảng từ cuối tháng bảy đến tháng mười một, cả cánh đồng xứ “Ngũ Càng” lại chìm trong biển nước tưởng chừng không bờ không bến. Giữa không gian mênh mang ấy, sau màn hơi nước mờ ảo, thấp thoáng những xóm “Càng” như những ốc đảo cứ chơi vơi, bềnh bồng theo từng con sóng nhỏ.
Về với xứ “Ngũ Càng”, cũng như bao người khách lạ, chúng tôi không khỏi băn khoăn: Vì sao người xưa lại gọi những xóm nhỏ thân thương này là “Càng” mà không gọi là “Làng”? Ngược dòng Ô Lâu lần tìm các vị cao niên ở những làng cổ Lương Điền, Hội Kỳ, rồi Mỹ Chánh mới hay rằng: Ngày xưa ấy, khi tiền nhân tìm đến vùng đất đôi bờ Ô Lâu để sinh cơ lập nghiệp, các vị khai canh đã chọn vùng đất cao hơn về phía Tây để sinh sống thành làng xóm.
Sau đó, theo thời gian, người dân từ các làng này tiến dần về phía Đông khai khẩn đất đai để làm ruộng. Nhưng vì vùng hạ lưu dòng Ô Lâu thường ngập nước vào mùa lũ nên mỗi năm chỉ có thể gieo trồng một vụ lúa xuân hè. “Rồi mùa toóc rạ rơm khô”, mọi người quay về làng chính để tránh lũ.

Càng Hội Kỳ (xã Nam Hải Lăng, Quảng Trị) nhìn từ trên cao - Ảnh: P.T.L
Dù vậy, mỗi làng vẫn cử ra một số trai tráng ở lại gác ruộng, giữ đất. Những người nông dân bám đồng lâu ngày dần trở nên dày dạn với gió sương, quen thuộc với nhịp sống mùa nước nổi đã mang theo gia đình vợ con đến nơi ở mới rồi quần tụ thành từng xóm nhỏ.
Về tên gọi “Càng”, có người bảo rằng: Vì vùng đất mở rộng và vươn xa của mỗi làng trông tựa như cái càng của con cua, nên người xưa gọi những xóm nhỏ ấy là “Càng” và gắn với tên làng chính, như: Càng Mỹ Chánh, Càng Hội Điền, Càng Hưng Nhơn, Càng An Thơ, Càng Cây Da.
Thật khó giải thích thấu đáo về nguồn gốc tên gọi “Càng” hôm nay. Chỉ biết rằng, qua suốt mấy trăm năm, giữa cánh đồng cò bay thẳng cánh, người dân xứ Càng vẫn gắn bó thủy chung với mảnh đất quê nhà, cho dù cuộc sống bao phen nhọc nhằn gian khó.
Tháng mười, đi qua những ngày mưa lũ, buổi chiều đứng ở Càng Cây Da nhìn về phía Tây, những dãy núi nối nhau tít tắp, xanh mờ xa thẳm. Mây trời mùa thu đổ bóng rồi nhẹ nhàng lướt qua mặt nước dòng Ô Giang. Đi dọc theo tuyến đê bao tránh lũ ven sông, Càng Hội Điền như một con tàu đang trôi đi giữa mênh mông sóng nước, mang theo cuộc sống với bao nỗi buồn vui của gần 40 nóc nhà.

Người dân Càng Mỹ Chánh tập luyện chuẩn bị đua thuyền mùa lũ - Ảnh: P.T.L
Xứ Càng từ đời này sang đời khác, nhà nào cũng sở hữu ít nhất một chiếc thuyền nhỏ và một bến nước trên dòng kênh dẫn ra cánh đồng. Mùa lũ, cuối ngày là lúc người dân tranh thủ giăng câu, thả lưới. Công việc tuy không quá vất vả nhưng mỗi chiếc thuyền thường có hai người cùng đi, chủ yếu là hai vợ chồng để một người chèo chống, một người buông lưới. Nhưng đôi khi chỉ có một người, lúc này họ sẽ chèo thuyền ngược gió, rồi phó mặc con thuyền trôi xuôi theo dòng nước để rãnh tay buông lưới. Cá đồng mùa lũ, con lớn được “ngư phủ” bán cho thương lái hoặc chế biến thành các món ăn cho bữa cơm gia đình; con nhỏ thì giữ lại để làm mắm, để hong khô trên bếp lửa hoặc làm thức ăn cho gà vịt.
Tuy cùng mưu sinh nhưng người dân mỗi nơi lại có cách đánh bắt cá khác nhau. Nếu như vợ chồng anh Lê Văn Chương và người xứ Càng nói chung chủ yếu giăng câu thả lưới qua đêm, thì người làng Vân Trình về phía Nam dòng Ô Lâu lại đi thành từng nhóm nhỏ gọi là “Bạn”, mỗi “Bạn” thường có từ 5-7 thuyền. Sau khi buông lưới, họ sẽ dàn thuyền thành hàng ngang và bắt đầu đuổi cá, tiếng gõ lốc cốc từ mạn thuyền lan nhanh trên mặt nước vang vọng không dứt...
Xứ “Ngũ Càng” mùa nước nổi, gió bấc mang theo về giá rét căm căm. Những chiếc thuyền nhỏ còn là phương tiện không thể thiếu để các gia đình giao thương mua bán và kết nối Càng gần với Càng xa. Mùa đông, màn đêm buông xuống thật nhanh, gió buốt tứ bề, những rặng tre già càng trở nên xơ xác. Nhưng cũng thật may mắn, kể từ năm 2001, người dân ở vùng đất này đã được Nhà nước xây dựng hệ thống điện lưới để phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nhờ vậy, cuộc sống bớt phần hiu hắt. Khoảng gần 6 giờ sáng, cả vùng Càng lại thức giấc bởi tiếng í ới của những đứa trẻ gọi nhau đến trường, còn người lớn lại vội vã chèo thuyền đi thu lưới và bán cá.
Đứng bên dòng Ô Giang trong tiết trời thu mưa nắng thất thường, những hàng cây ven sông bắt đầu rụng lá, bâng khuâng nhớ ngày cũ và nhớ về hai câu thơ của người xưa:
“Hai châu Ô, Rí vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi”

Người dân Càng Hưng Nhơn đánh bắt cá mùa lũ bằng rớ - Ảnh: P.T.L
Đời nhà Trần, sau khi vua Chiêm Thành dâng châu Ô và châu Rí làm sính lễ xin cưới Huyền Trân công chúa, những làng mạc vùng đất hạ lưu dòng Ô Lâu và đôi bờ dòng Ô Giang sau khi trở thành lãnh thổ nước Đại Việt, vậy mà thấm thoát đã ngót hơn 700 năm, những vị khai canh đã truyền được trên 20 đời con cháu. Nhìn mặt nước chấp chới dưới ánh nắng mùa thu, ngần ấy thời gian đằng đẵng với không ít gian nan, khắc nghiệt, phải chăng có điều gì lôi cuốn mãnh liệt thì con người mới không đành lòng rời xa quê xứ? Hoặc là họ thuận theo lời dặn dò của tiền nhân như đôi câu đối trong miếu thờ ở Càng Hưng Nhơn mà trụ lại bền lâu đến như vậy:
“Tiền nhân khai tháp ma lâm xứ
Hậu thế bảo tồn Vĩnh Hưng thôn”
(Đại ý là: Người đi trước khai khẩn chốn rừng thiêng/Thế hệ cháu con gìn giữ mảnh đất Vĩnh Hưng).
Và đó còn là câu chuyện về một cụ bà bưng đá để giữ ruộng, về sau trở thành giai thoại khởi nguồn cho hội thi bưng đá truyền thống ở Càng Hưng Nhơn vẫn được duy trì cho đến tận ngày hôm nay.
Chuyện kể rằng, ngày xưa tình trạng tranh chấp đất đai giữa các Càng hay xảy ra sau mỗi mùa lũ. Do Càng Hưng Nhơn không thể tự dàn xếp ranh giới với Càng An Thơ, sự việc đành phải trình lên quan huyện phân xử. Vị quan liền chỉ tay vào chiếc trống đá và phán: “Tảng đá kia, ai bưng nổi và di dời đến đâu thì nơi đó chính là mốc giới”.
Nghe vậy, một cụ bà ở Càng Hưng Nhơn liền bước lên. Trước sự ngỡ ngàng rồi vỡ òa tiếng reo hò của đám đông, cụ bà liền ôm khối đá bước đi được chừng mười thước. Nhưng do khối đá to và nặng làm xộc xệch váy áo nên bà đành buông tay. Về sau, chính nơi khối đá rơi xuống đã trở thành mốc phân định địa giới giữa hai Càng.
Khi cụ bà qua đời, để ghi nhớ công đức ấy, người dân Càng Hưng Nhơn đã lập miếu Bà Giàng phụng thờ ngay trên khoảng đất từng xảy ra tranh chấp. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 8/5 (âm lịch), Càng Hưng Nhơn lại trang trọng tổ chức lễ cúng tại miếu bằng hoa lợi thu được từ 3 sào “ruộng miếu” công điền.

Người dân xứ “Ngũ Càng”, xã Nam Hải Lăng, Quảng Trị đánh bắt cá bằng lưới trong mùa lũ - Ảnh: P.T.L
Về với xứ “Ngũ Càng”, dù chỉ thoáng qua như con thuyền nhỏ lướt nhanh trên mặt nước, nhưng cuộc sống với những hình ảnh dân dã, thân thuộc và những âm thanh đời thường mộc mạc cũng đã kịp trở thành ký ức đẹp về một vùng đất bao la, hoang dã đầy thử thách mà hào phóng với con người. Còn con người nơi đây thì hiền hòa, mến khách mà bản lĩnh can trường từ đời này sang đời khác. Không chỉ thế, qua đằng đẵng thời gian còn là những chiêm nghiệm, nghĩ suy về lẽ đời hưng phế, là ký ức của đời người, là sự neo đậu của những tâm tình cùng bổn tộc, họ phái, quê hương xứ sở.
Lưu luyến chia tay vùng Càng lớn khi người dân đang tụ hội về Càng Hội Điền để chuẩn bị cho lễ đua thuyền mùa lũ. Trong tiếng hò reo kia, chúng tôi có cảm giác như đang được sống lại không khí của buổi hồng hoang, thuở tiền nhân đi mở đất với những bước chân lặng lẽ, phong trần, góp phần mở mang bờ cõi; cái thuở mà con người và chim trời cùng vạn vật là bạn, để rồi cứ mỗi mùa thiên di, từng đàn thiên nga lại kéo nhau về với xứ Ngũ Càng trắng cả đất trời.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/phong-su-ky-su/202610/ve-xu-ngu-cang-mua-lu-413329f/
