Người bác sĩ 'mò mẫm' mở ra hy vọng cho những ca bệnh chưa có tiền lệ
Từ thực hành lâm sàng là nếu mang song thai mà đẻ một thai thì thai còn lại hỏng nốt. Nhưng giữ thai thứ hai sau khi thai thứ nhất đã sinh hoặc sảy, thì những ca đó quả thật phải dùng từ 'mò mẫm'. Tại vì, chưa có một nền y học nào trên thế giới, họ viết về vấn đề đẻ một thai mà vẫn giữ.
Ca bệnh đặc biệt
Kỳ tích y khoa được nhắc đến nhiều, như một dấu ấn đặc biệt của y học Việt Nam về những nỗ lực của các y, bác sĩ trong cuộc chiến giành giật sự sống cho hai em bé song sinh chào đời cách nhau 13 tuần và đảm bảo an toàn cho người mẹ là trường hợp chị Nguyễn Thị Liên (32 tuổi, trú tại Bắc Ninh).
Sau gần 5 năm kết hôn, chị Liên đã phải trải qua hành trình "tìm con" nhiều gian truân do bệnh lý đa nang buồng trứng và tình trạng tắc, thông hạn chế vòi trứng. Chị Liên và chồng là anh Kiên quyết định thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Những tưởng trái ngọt đã đến với đôi vợ chồng hiếm muộn khi chị mang song thai, thế nhưng, ở tuần thai thứ 20, chị Liên đã được cảnh báo nguy cơ sinh non khi cổ tử cung bắt đầu mở. Đến tuần thứ 22 - 23, tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn với các dấu hiệu đau bụng tăng dần, ra dịch âm đạo và xuất hiện cơn co tử cung. Qua thăm khám, các bác sĩ nhận định đây là trường hợp đặc biệt, nguy cơ mất cả hai thai rất cao, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng sản phụ.
Mắt đỏ hoe nhớ lại thời khắc "tiếng sét ngang tai", chị Liên xúc động kể: "Hai trái tim nó vẫn đang đập trong cơ thể mình, vậy mà nghe đến việc phải kết thúc thai kỳ, mình không hề mong muốn. Tình mẫu tử không cho phép mình lùi bước và mình phải cố gắng để làm sao dù chỉ một tia hy vọng, mình cũng phải giữ lấy em bé".

ThS.BSCKII Trương Minh Phương – Phó Trưởng khoa Sản bệnh A4, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội "mò mẫm" mở lối hy vọng kéo dài thời gian mang thai B khi thai A đã đẻ trong trường hợp chửa song thai khác bánh rau.
Trực tiếp điều trị cho ca bệnh đặc biệt này, ThS.BSCKII Trương Minh Phương phân tích: "Đây là một ca song thai khác bánh rau đặc biệt, thai phụ nhập viện khi đã có dấu hiệu dọa sinh non thực sự ở 22 tuần 5 ngày. Thời điểm này, cơn co tử cung mạnh, cổ tử cung mở 2 - 3cm, một thai đã sa thấp, chân thai nhi lộ ra ngoài âm đạo; nguy cơ sảy thai hoặc sinh non rất cao. Đây là tình huống thai kỳ hiếm gặp, diễn biến phức tạp. Ê kíp đã hội chẩn khẩn, xây dựng chiến lược điều trị với mục tiêu kéo dài thai kỳ tối đa, ưu tiên giữ thai còn lại ở vị trí cao trong tử cung. Đồng thời, chuẩn bị phương án có thể phải chấp nhận sinh thai thứ nhất để bảo toàn cơ hội sống cho thai thứ hai. Bởi, nếu kéo dài thêm được một tuần, cơ hội sống của trẻ có thể tăng thêm 20 - 30%".
Đến mốc 25 tuần 6 ngày, thai phụ chuyển dạ thực sự và sinh thường thai thứ nhất ngày 20/1/2026, bé gái nặng 650 gram. Trẻ được hồi sức sơ sinh ngay sau sinh, đáp ứng tốt nhờ được hỗ trợ trưởng thành phổi, não trước đó và được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương để tiếp tục điều trị.
"Sau khi sinh thai thứ nhất, nguy cơ của thai thứ hai ở trong bụng mẹ là rất lớn, nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, nguy cơ thai không phát triển được nữa sẽ mất trong bụng mẹ… Rất nhiều nguy cơ thường trực", ThS.BSCKII Trương Minh Phương trăn trở.
Trước những ca bệnh đặc biệt chưa có tiền lệ, thay vì lựa chọn con đường an toàn, ThS.BSCKII Trương Minh Phương cùng đồng nghiệp kiên trì nghiên cứu, tìm tòi từng hướng đi mới từ thực tiễn lâm sàng. "Ê kíp tiếp tục bước vào giai đoạn khó khăn, thách thức hơn là giữ lại thai thứ hai trong điều kiện cổ tử cung đã mở. Sản phụ được theo dõi sát, sử dụng kháng sinh liên tục, xử lý dây rốn và kiểm soát chặt các nguy cơ nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn. Toàn bộ quá trình điều trị được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo bệnh viện. Phác đồ liên tục được điều chỉnh, cập nhật theo diễn biến thực tế, bảo đảm an toàn cho sản phụ và thai nhi", ThS.BSCKII Trương Minh Phương chia sẻ quá trình nghiên cứu đưa ra phương án tối ưu nhất.
Mỗi quyết định đều phải cân nhắc rất kỹ, vì phía sau là cơ hội sống của các em bé. Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Mai Trọng Hưng chia sẻ, với những trường hợp thai kỳ phức tạp tương tự, thai kỳ thường được chỉ định kết thúc ở tuần 32 - 34. Tuy nhiên, ở trường hợp này, các bác sĩ đã nỗ lực kéo dài thời gian mang thai tối đa, trên cơ sở theo dõi sát diễn biến của thai phụ và thai nhi, nhằm giúp trẻ phát triển hoàn thiện hơn trước khi chào đời. Sau 13 tuần điều trị tích cực, thai thứ hai được duy trì đến 38 tuần. Ngày 15/4, thai phụ được mổ lấy thai thành công, em bé cất tiếng khóc chào đời, bé trai nặng 2,4kg.

Khoảnh khắc vỡ òa hạnh phúc của vợ chồng chị Liên, anh Kiên ôm con trong vòng tay.
Đối mặt với hàng loạt nguy cơ, cảm xúc lo lắng giằng xé tột độ, giây phút nghẹn thở, những hy vọng mong manh, khoảnh khắc vỡ òa hạnh phúc của vợ chồng chị Liên, anh Kiên ôm con trong vòng tay, đánh dấu sự khởi đầu của một mái ấm đủ đầy yêu thương.
"Gia đình tôi thực sự hạnh phúc và biết ơn các bác sĩ. Suốt gần 4 tháng điều trị, chúng tôi luôn sống trong lo lắng. Đến khi con ra đời an toàn, tất cả mới thực sự thở phào. Tôi đặt tên các con là An Nhiên và Bình An, chỉ mong các con có một cuộc sống đúng như tên gọi - bình an và khỏe mạnh", chị Liên xúc động nói.
"Đến nay, hai bé đều khỏe mạnh và lớn lên từng ngày, hạnh phúc bên gia đình. Bé An Nhiên nặng 3,2kg và Bình An nặng hơn 4kg", ThS.BSCKII Trương Minh Phương cho biết.
Theo Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Mai Trọng Hưng, thành công của ca bệnh là kết quả của nhiều yếu tố, đặc biệt, quá trình điều trị có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều chuyên khoa như Sản, Truyền nhiễm, Hồi sức cấp cứu và Nhi khoa. Không chỉ trong nước, ê-kíp còn tham khảo ý kiến từ các chuyên gia quốc tế, bao gồm các trung tâm sơ sinh tại Thụy Điển và đơn vị bảo tồn thai kỳ tại Italia, nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị.
Các cán bộ, y, bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng đã ứng dụng những kỹ thuật tốt nhất, áp dụng phác đồ kháng sinh theo hướng "mở", không cố định mà liên tục điều chỉnh theo diễn biến thực tế. Đồng thời, các loại thuốc tiên tiến trong lĩnh vực sản khoa và truyền nhiễm cũng được ưu tiên sử dụng. Căn cứ vào kết quả cấy dịch từng thời điểm, phác đồ có thể được thay đổi nhiều lần trong tuần nhằm bảo đảm thuốc sử dụng phù hợp để khống chế nhiễm khuẩn, giảm cơn co và các biện pháp hỗ trợ trưởng thành phổi, tuần hoàn, chống phù não cho thai nhi ngay từ trong bụng mẹ. Ca bệnh được theo dõi sát từng li, từng tí để kiểm soát các chỉ số sinh hóa, tình trạng dịch ối và sức khỏe của mẹ để bảo đảm môi trường an toàn nhất cho thai nhi phát triển, trưởng thành. Điểm quan trọng trong chiến lược điều trị là nguyên tắc can thiệp sớm. Thay vì chờ đến khi nhiễm trùng bùng phát rõ rệt, các bác sĩ chủ động phát hiện và xử lý ngay từ những dấu hiệu nguy cơ ban đầu, nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe người mẹ và duy trì sự sống cho thai nhi.
"Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ thứ hai lâu nhất ở sản phụ song thai mà sau khi thai thứ nhất đã sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thành công của ca bệnh là một kỳ tích chưa từng có trong y văn thế giới và tại Việt Nam. Hiện nay, với những trường hợp như thế này, nhiều nơi chưa có cơ sở để tiếp tục điều trị, thường sẽ dừng lại. Nhưng nếu có thêm dữ liệu, có thể sẽ thay đổi quan điểm, không phải cứ ối vỡ là bỏ cuộc. Tất nhiên, để trở thành một quy trình chuẩn hay phác đồ chuẩn thì cần thêm nhiều ca bệnh và nghiên cứu sâu hơn. Nhưng ít nhất, trường hợp này cũng là một kinh nghiệm lâm sàng quan trọng để từ đó phát triển các hướng điều trị cho những ca khó, chưa có tiền lệ", Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Mai Trọng Hưng nhấn mạnh.
Sẵn sàng dấn thân trước những ca bệnh khó

ThS. BSCKII Trương Minh Phương siêu âm cho thai phụ.
Việc giữ được thai thứ hai thêm 13 tuần sau khi thai đầu đã sinh là một thành công đặc biệt hiếm gặp. Từ năm 2020 đến nay, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã thực hiện 6 - 7 ca giữ thai thứ hai kéo dài, sau khi thai thứ nhất đã sinh hoặc sảy.
Không chấp nhận từ bỏ ước mơ, thiên chức làm cha mẹ của mỗi gia đình, các bác sĩ đã kiên trì đồng hành cùng nhiều thai kỳ nguy cơ cao. Điển hình, trước đó ThS.BSCKII Trương Minh Phương cùng ê-kíp đã giữ thai thành công cho cặp vợ chồng 8 năm hiếm muộn. Sản phụ mang song thai IVF 2 bánh rau, 2 buồng ối, một thai đẻ non tuần 24 mất ngay sau sinh, thai còn lại được nuôi dưỡng trong bụng mẹ. Các bác sĩ quyết định buộc dây rốn, giữ lại bánh rau, dùng các thuốc điều trị để tiếp tục giữ em bé còn lại trong bụng mẹ. Có lúc tưởng chừng phải dừng lại bởi sau khi sản phụ đẻ thai thứ nhất, tử cung co bóp nhằm đẩy thai còn lại ra ngoài. Dấu hiệu nhiễm trùng xuất hiện từng đợt, các bác sĩ phải đổi phác đồ điều trị kháng sinh phù hợp. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị, chế độ ăn uống cũng như sinh hoạt. Đến tuần 33, bệnh nhân bị vỡ ối. Để đảm bảo an toàn cho em bé, tránh nguy cơ suy thai, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai và phẫu thuật thành công. Bé trai nặng 2kg, khỏe mạnh cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui vỡ òa của ê kíp và gia đình.
Dấn thân vào hành trình đầy thử thách, không có phác đồ hoàn chỉnh, không có nhiều kinh nghiệm để tham khảo, ThS.BSCKII Trương Minh Phương chỉ có kiến thức chuyên môn, sự cẩn trọng nhằm bảo vệ mầm sống mong manh và còn thắp lên hy vọng cháy bỏng về thiên chức làm cha, làm mẹ – niềm hạnh phúc thiêng liêng của biết bao gia đình trên hành trình "tìm con" đầy gian nan. Trực tiếp tham gia thực hiện thành công các ca bệnh khó, chưa có tiện lệ đó, ThS.BSCKII Trương Minh Phương chia sẻ: "Từ năm 2019, chúng tôi bắt đầu "mò mẫm" tiếp cận và điều trị trường hợp đầu tiên giữ thai thứ hai sau khi thai thứ nhất đã sinh hoặc sảy.
Chúng tôi phải dùng từ "mò mẫm" vì chưa có một nền y học nào trên thế giới viết về vấn đề đẻ một thai mà vẫn giữ lại một thai ở trong bụng, trong thai kỳ song thai. Trước những ca bệnh khó đặc biệt như vậy, chúng tôi phải cân não giữa việc vừa bảo vệ an toàn cho người mẹ, cũng nỗ lực giữ bằng được thai nhi phát triển, trưởng thành và sinh ra khỏe mạnh. May mắn là những trường hợp đầu tiên đó thành công nên chúng tôi cũng mạnh dạn triển khai thêm".

Thai phụ nguy cơ cao được theo dõi bằng máy móc hiện đại và sự đồng hành của các y, bác sĩ.
"Đến nay, chúng tôi đã xây dựng được một hướng tiếp cận tương đối rõ ràng đối với những trường hợp song thai khác bánh rau mà vì một lý do bất khả kháng, một thai buộc phải chấm dứt thai kỳ sớm nhưng vẫn có thể nỗ lực giữ lại thai còn lại. Mỗi ca bệnh đều mang những đặc điểm riêng, song kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm đã giúp chúng tôi có cơ sở để đưa ra những quyết định chuyên môn phù hợp hơn. Chúng tôi đang tổng hợp các ca bệnh đã thực hiện để xây dựng một quy trình xử trí mang tính hệ thống, trình lên các hội đồng chuyên môn của bệnh viện và ngành y tế. Chúng tôi mong muốn nhận được thêm ý kiến từ các chuyên gia và đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện phác đồ, qua đó mở rộng cơ hội sống và cơ hội chào đời khỏe mạnh cho những em bé trong các thai kỳ đặc biệt", ThS.BSCKII Trương Minh Phương nói.
Khao khát chinh phục những giới hạn mới của y học, ThS.BSCKII Trương Minh Phương dí dỏm chia sẻ: "Năm 2019 - 2020, chúng tôi lọ mọ làm ca đầu tiên thành công. Năm 2022, ca tiếp theo thành công. Năm 2022 - 2024, hàng loạt ca thành công được ghi nhận. Năm 2026, chúng tôi đã tích lũy được cả chục ca nên đề xuất hướng dẫn thực hành cho bác sĩ sản khoa về vấn đề "kéo dài thời gian mang thai B khi thai A đã đẻ trong trường hợp chửa song thai khác bánh rau".
Cá thể hóa điều trị
Phóng viên theo chân ThS.BSCKII Trương Minh Phương đi buồng thăm khám các bệnh nhân. Tại Khoa Sản bệnh A4, có rất nhiều sản phụ đang tiếp tục được giữ thai trong tình trạng nguy cơ cao với đầy thử thách. Chúng tôi biết thêm những nỗi niềm, câu chuyện riêng, tâm trạng của các thai phụ hằng ngày lo âu và hy vọng để chờ đợi tiếng khóc chào đời của con mình.
ThS.BSCKII Trương Minh Phương cho biết, tại Khoa Sản bệnh A4, những thai kỳ nguy cơ cao luôn là thách thức thường trực đối với đội ngũ y, bác sĩ. Đây là nơi tiếp nhận và điều trị các trường hợp sản khoa phức tạp được chuyển đến từ nhiều cơ sở y tế tuyến dưới khi vượt quá khả năng chuyên môn hoặc điều kiện điều trị. Những trường hợp như dọa sinh non, dọa sảy thai diễn biến phức tạp, các bệnh lý nặng ở mẹ như tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, hay các bất thường, bệnh lý ở thai nhi… cần được theo dõi và can thiệp chuyên sâu.

Mỗi thai phụ sẽ được đánh giá toàn diện dựa trên tình trạng bệnh lý cụ thể.
"Bên cạnh việc tuân thủ các quy trình chuyên môn và phác đồ điều trị đã được Bộ Y tế ban hành, chúng tôi thường xuyên phải đối mặt với những thai kỳ nguy cơ rất cao, đặc biệt là các trường hợp bệnh lý nặng nề ở cả mẹ và thai nhi. Với những ca bệnh này, việc điều trị không thể áp dụng một cách máy móc theo một khuôn mẫu có sẵn mà đòi hỏi phải được cá thể hóa điều trị. Cá thể hóa điều trị có nghĩa là mỗi thai phụ sẽ được đánh giá toàn diện dựa trên tình trạng bệnh lý cụ thể, diễn biến thực tế của thai kỳ cũng như các yếu tố nguy cơ riêng biệt. Không có một phác đồ chung nào có thể bao quát hết mọi tình huống lâm sàng phức tạp. Chính vì vậy, đội ngũ bác sĩ phải liên tục theo dõi, phân tích diễn biến bệnh và điều chỉnh chiến lược điều trị sao cho phù hợp nhất với từng thời điểm. Mỗi khi xuất hiện những thay đổi về tình trạng của người bệnh, đồng nghĩa với việc chúng tôi có thể phải thay đổi phác đồ hoặc định hướng điều trị. Mọi quyết định chuyên môn đều được thực hiện hết sức chặt chẽ với sự tham gia của hội đồng chuyên môn và hội chẩn đa chuyên khoa; xin ý kiến của các thầy, các chuyên gia; tham khảo nghiên cứu kinh nghiệm y học tiên tiến của các nước trên thế giới... để bảo đảm rằng mọi phương án được đưa ra đều dựa trên những cơ sở khoa học, mang lại sự an toàn cao nhất cho thai phụ; đồng thời tối ưu hiệu quả điều trị và cơ hội phát triển tốt nhất cho thai nhi", ThS.BSCKII Trương Minh Phương phân tích.
Với nhiều năm kinh nghiệm, ThS.BSCKII Trương Minh Phương đã thực hiện thành công nhiều kỹ thuật khó như khâu vòng cổ tử cung cấp cứu, giữ thai thành công cho thai phụ 21 tuần dọa sảy thai, cổ tử cung mở 4cm; cứu thành công trường hợp vỡ tử cung tại vị trí rau cài răng lược; phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn và 2 phần phụ cho một bệnh nhân có khối u xơ tử cung khổng lồ, nặng tới 4,125kg; điều trị cho hàng nghìn ca bệnh, mang đến hy vọng viên mãn cho nhiều gia đình; đón nhiều em bé chào đời khỏe mạnh, an toàn.
Là một trong số bệnh nhân đang được bác sĩ ThS.BSCKII Trương Minh Phương điều trị, chị Trịnh Linh Giang, sinh năm 1993, ở phường Hà Đông (Hà Nội), từng bị Polyp cổ tử cung gây hiếm muộn. Sau hành trình 4 năm đầy hy vọng đi "tìm con", vợ chồng chị Giang đã đón nhận tin vui khi có thai nhờ phương pháp IVF. Thế nhưng, ở tuần thai 21, chị Giang lại phải đối mặt với thử thách khắc nghiệt khi thai kỳ đứng trước nguy cơ dọa sảy. Chị đi khám thai định kỳ, vô tình được phát hiện có dấu hiệu dọa đẻ non/ dọa sảy thai. Cổ tử cung mở 2 phân dù chị Giang không cảm nhận đau bụng hay bất kỳ dấu hiệu bất thường nào khác. Chị Giang được chỉ định nhập viện Khoa Sản bệnh A4 ngay để điều trị giữ thai.
Chị Giang xúc động chia sẻ: "Tôi thực sự hoang mang và lo lắng, bởi con đến với chúng tôi đã là một phép màu. Trong những ngày đầu, nỗi lo mất con luôn hiện hữu. May mắn, tôi luôn nhận được sự theo dõi sát sao và tận tâm của bác sĩ Phương cùng ê-kip điều trị. Bác sĩ không chỉ đưa ra phác đồ kịp thời mà còn luôn động viên, giúp tôi vững tinh thần trong những lúc yếu lòng nhất. Chính sự đồng hành ấy đã cho tôi niềm tin để tiếp tục cố gắng. Đến nay, thai của tôi đã hơn 26 tuần và vẫn đang được giữ ổn định. Với tôi, mỗi ngày con còn ở lại trong bụng mẹ là một ngày hạnh phúc, một ngày hy vọng được thắp sáng. Gia đình tôi mong tiếp tục nhận được sự đồng hành của bác sĩ Phương và đội ngũ y bác sĩ để con có thể, đủ trưởng thành, đủ ngày, đủ tháng chào đời an toàn và khỏe mạnh".

Có một bác sĩ 'không ngủ' giữa trùng khơi.











