Người giáo sư quân y mang tâm hồn thi sĩ

Một vì sao sáng trên bầu trời y học nước nhà vừa vụt tắt. Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Ưu tú Vũ Bằng Đình (1935-2026) - nguyên Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 vừa nhẹ nhàng khép lại một hành trình nhân sinh rực rỡ, can trường và đầy cống hiến.

Không chỉ là một nhà khoa học xuất sắc với những công trình góp phần cứu sống nhiều người, ông còn là một người lính kiên trung đi qua khói lửa chiến tranh với một trái tim nhạy cảm. Cuộc đời ông là một ký sự đầy xúc động về sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa bản lĩnh của một người thầy thuốc quân y và sự lãng mạn, tinh tế của một tâm hồn thi sĩ.

Bản lĩnh trên tuyến lửa và nỗi day dứt bên dòng Bến Hải

Sinh ra và lớn lên nơi dải đất ven bờ sông Luộc thuộc xã Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên (địa danh trước sáp nhập, nay là xã Hải Thắng, tỉnh Hưng Yên), cậu thanh niên Vũ Bằng Đình mang theo sự hiếu học và lòng yêu nước thiêng liêng bước vào giảng đường Đại học Y Hà Nội. May mắn được chỉ dạy bởi những bậc đại thụ như GS Trịnh Ngọc Phan, ông tốt nghiệp chuyên ngành truyền nhiễm và về công tác tại Khoa Truyền nhiễm (nay là Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm, Bệnh viện TWQĐ 108) dưới sự dẫn dắt của GS Bùi Đại.

Những ngày tháng ấy, Khoa Truyền nhiễm là nơi đối mặt với những trận chiến thầm lặng nhưng vô cùng khốc liệt. GS Vũ Bằng Đình từng chia sẻ: “Suốt thời gian công tác ở Khoa Truyền nhiễm, tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị. Kỷ niệm sâu sắc đối với tôi là điều trị bệnh sốt rét, viêm gan và giun xoắn".

 Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Ưu tú Vũ Bằng Đình.

Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Ưu tú Vũ Bằng Đình.

Cuối năm 1967, từ chiến trường B5 đỏ lửa, bác sĩ Vũ Bằng Đình nhận lệnh vượt sông Bến Hải để trở về hậu phương lớn, nhận nhiệm vụ tại Viện Quân y 108. Thời điểm đó, thủ phủ miền Bắc thu dung vô vàn ca bệnh nặng từ khắp các mặt trận đổ về. Sau chiến thắng Luông Nậm Thà tại Bắc Lào, bộ đội ta nhiễm giun xoắn hàng loạt do ăn phải thịt lợn chưa chế biến kỹ từ chiến lợi phẩm thu được của địch. Nhiều ca quá nặng dẫn đến tử vong, người sống sót thì suy kiệt, xơ cứng.

Nhưng ám ảnh nhất vẫn là “bão sốt rét”. Bệnh nhân từ chiến trường miền Nam, Lào, rồi sau này là chiến trường Campuchia (chiến trường K) dồn về như thác lũ. Khoa Truyền nhiễm chỉ có vỏn vẹn 40 giường nhưng phải gồng gánh hàng trăm bệnh nhân. Hành lang, buồng bệnh chen chúc giường kê thêm. Khi quá tải, các bác sĩ lại lặn lội chuyển viện, sang các tuyến dưới ở Sơn Tây để chỉ đạo điều trị. Bước chân của người lính quân y Vũ Bằng Đình chưa bao giờ ngơi nghỉ, ông cùng đồng đội thay nhau đi tuyến, sẵn sàng lao vào những nơi gian khó nhất vì sinh mệnh của đồng bào, đồng chí.

Đi tìm chìa khóa cứu sinh từ lòng đất mẹ

Năm 1980, giữa lúc cuộc chiến chống tập đoàn Pol Pot đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, thầy thuốc Vũ Bằng Đình lại lên đường, tăng cường cho Sư đoàn 330 thuộc Mặt trận 979 trong chiến dịch mùa khô. Trước khi đi, ông mang theo một thông tin quý giá từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Trung Quốc vừa phát hiện ra hoạt chất Artemisinin (thanh hao tố) chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng có khả năng trị sốt rét rất hiệu quả.

Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện và lãnh đạo Khoa, trực tiếp là GS Bùi Đại, bác sĩ Vũ Bằng Đình được phân công ra chốt sát biên giới Campuchia - Thái Lan. Tại đây, ông tận mắt chứng kiến những người lính trẻ măng ngã xuống trên đường vận chuyển về tuyến sau vì sốt rét ác tính, lòng ông thắt lại. Đường đi bị phục kích, mìn dày đặc, thuốc lại bị kháng, nhiều chiến sĩ đã mãi mãi gửi lại tuổi thanh xuân nơi rừng thiêng nước độc. Nỗi đau ấy trở thành sự day dứt khôn nguôi, thôi thúc một ý nghĩ táo bạo: “Giá mà có loại thuốc hữu hiệu cho bệnh nhân hôn mê uống qua sonde dạ dày hoặc nhét vào hậu môn trong trường hợp sốt rét ác tính ở chốt không thể truyền dịch tải thuốc thì sẽ cứu được nhiều trường hợp”.

Ý tưởng nhân văn đó chính là tiền đề cho hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước sau này. Trở về nước, ông cùng PGS, TS Đinh Huỳnh Kiệt (Cục Quân y) ráo riết đi tìm cây thanh hao hoa vàng. Trong quá trình tìm kiếm, ông gặp bậc thầy thực vật học - GS Vũ Văn Chuyên trên một chuyến xe đi giảng dạy. GS Chuyên chỉ cho ông biết loài cây mang tên khoa học Artemisia Annua L này mọc rất nhiều ở Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc.

Như tìm thấy lời giải cho một bài toán lớn, một đoàn nghiên cứu lập tức ngược ngàn lên xứ Lạng. Những nỗ lực thầm lặng bước đầu đã hái được quả ngọt. Cuối năm 1987, giữa cái lạnh thấu xương của vùng biên giới Hà Giang (trước đây), GS Vũ Bằng Đình cùng các cộng sự lập trạm nghiên cứu tại Đội Điều trị 93. Kết quả lâm sàng kỳ diệu ngoài mong đợi: Trên 80% bệnh nhân sốt rét được cắt sốt và sạch ký sinh trùng nhờ viên thanh hao thô.

Mạch ngầm khoa học cứ thế tuôn chảy. Hoạt chất Artemisinin thuần khiết đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự phối hợp của các nhà khoa học quân y. Các chế phẩm tiêm truyền sau đó đã tạo nên một cuộc cách mạng ngoạn mục: Tỷ lệ sốt rét tại các đơn vị chiến đấu từ 70 - 80% giảm xuống chỉ còn 0 - 1%; tỷ lệ tử vong từ 10 - 40% xuống mức gần như bằng không (0 - 2%). Cây thanh hao hoa vàng từ bờ bụi hoang dại bước vào các nông trường đại trà, cứu sống nhiều người trong nước và vươn tầm xuất khẩu sang tận châu Phi xa xôi.

Bản tình ca của người chiến sĩ và trái tim thi sĩ tinh tế

Nếu y học là sự nghiệp cứu người đầy lý tính và nghiêm cẩn, thì thơ ca chính là nơi GS Vũ Bằng Đình gửi gắm phần mềm mại, nhạy cảm nhất của tâm hồn mình. Người ta thường nghĩ một nhà khoa học, một Đại tá quân đội sẽ khô khan, nhưng với ông, thơ ca chính là tiếng lòng tự sự, là người bạn đồng hành an ủi những phút giây thổn thức trước thời cuộc.

Mãi đến năm 77 tuổi, ông mới gom góp những “đứa con tinh thần” để cho ra đời tập thơ đầu tay mang tên "Giọt nắng giọt mưa". Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã phải thốt lên đầy kinh ngạc:“Đọc thơ Vũ Bằng Đình, tôi thật sự kinh ngạc, vì chẳng thấy nhà khoa học đâu cả, thay vào đó là một trái tim nhạy cảm, tinh tế”.

Thơ ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn. Đó là những nét vẽ giản dị mà ám ảnh về những đêm trăng tát nước, những trận mưa rừng gột rửa vết thương, hay những phút bàng hoàng lặng người bên nấm mộ của đồng đội vừa nằm xuống. Hình ảnh người lính quân y trong chiến dịch được ông khắc họa bằng những vần thơ vừa chân thực, vừa thương mến:

Ba lô, bao gạo vắt ngang

Sau lưng cuốc xẻng, súng quàng trên vai

Lại thêm hai trái lựu cài

Một bi đông nước, bên gài nắm cơm,

Vai kia một túi cứu thương

Lặc lè, dép lốp đường trơn lối mòn…

Và cái khốc liệt của chiến tranh hiện lên, nhưng bị khuất phục bởi tinh thần thép của người thầy thuốc:

Phòng mổ bán âm đào bên dòng suối,

Ba hôm rồi kíp mổ chẳng rời tay.

Đạn bom thù trút xuống khắp rừng cây,

Nước lõm bõm dưới chân người đứng mổ.

Vách cài đá vây quanh che ánh lửa”.

Rời ghế lãnh đạo Bệnh viện TWQĐ 108 khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (giai đoạn 1995-1998), GS Vũ Bằng Đình dù tuổi đã cao nhưng chưa một ngày ngơi nghỉ. Khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: "Tuổi già nhưng chí không già", ông vẫn miệt mài hoạt động khoa học, viết sách tổng kết kinh nghiệm cho thế hệ sau, tham gia các hoạt động từ thiện và lặng lẽ phục vụ nhân dân.

Những lúc thảnh thơi, ông lại mượn thơ phú để ghi lại những thăng hoa của cảm xúc, những hoài niệm một thời bom đạn. Với ông, được sống, được cống hiến và được yêu thương đã là một hạnh phúc trọn vẹn.

Cuộc đời Giáo sư Vũ Bằng Đình để lại dấu ấn sâu đậm trong nền y học Quân đội. Những công trình khoa học, những vần thơ và tấm gương một người thầy thuốc suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ cán bộ, thầy thuốc quân y.

MAI HẰNG - HIỀN ANH

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/phong-su/nguoi-giao-su-quan-y-mang-tam-hon-thi-si-1044827