Người lính thép và hành trình tiếp lửa ký ức giữa đời thường bình dị
Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về một thời lửa đạn cùng ý chí kiên cường của những người lính cách mạng vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí ông Kiều Văn Uỵch (sinh năm 1953, ở thôn Phúc Tiến, xã Đại Xuyên, Hà Nội). Trở về với cuộc sống đời thường, ông cùng đồng đội tiếp tục gìn giữ những ký ức hào hùng, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Kiên trung trong lao tù
Trước khi nhập ngũ, từ năm 1965, cậu thiếu niên Kiều Văn Uỵch đã tham gia lực lượng dân quân tại khu vực Cầu Giẽ, cùng thanh niên trong làng xuống cầu lấp hố bom, khắc phục hậu quả sau mỗi trận oanh tạc của địch.
Năm 1968, khi mới 15 tuổi, ông viết đơn tình nguyện tham gia kháng chiến. Ông xúc động nhớ lại: “Chúng tôi chỉ mong sớm ra trận, trả thù cho những người đã hy sinh trong trận đánh phá cầu Giẽ. Tôi nhớ mãi hình ảnh con trai chị hàng xóm cùng nhiều người dân vô tội thiệt mạng. Khi đó, tôi tự hứa phải trả được mối thù ấy”.

Ông Kiều Văn Uỵch, Phó Giám đốc Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày. Ảnh: Hồng Nhung
Từ những ngày đầu huấn luyện gian khổ đến chặng đường hành quân vào chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, hành trang của người lính trẻ khi ấy chỉ là niềm tin giản dị: Được chiến đấu, góp sức cho Tổ quốc.
Nhớ lại hành trình vào chiến trường, cựu chiến binh Kiều Văn Uỵch kể: “Tháng 2-1969, chúng tôi lên đường, ăn Tết dọc đường. Toàn bộ hành trình đều đi bộ, leo dốc, vượt đèo, lội suối. Có những đoạn khô hạn, không có nước uống; gặp vũng nước đọng trong hốc đá cũng phải thả vài viên lọc rồi uống tạm. Vào rừng thì hái lá bứa nấu canh ăn qua bữa”.
Sau gần 3 tháng hành quân, ông cùng đơn vị vào đến chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Ông Uỵch nhớ rõ trận đánh lớn cuối tháng 9-1969 vào trận địa pháo Hòa Cầm, thuộc Hòa Vang (Đà Nẵng). “Tôi được giao nhiệm vụ đánh lô cốt đầu cầu. Khi hoàn thành nhiệm vụ, đơn vị mới đồng loạt nổ súng. Tôi bị đạn xuyên vào phần mềm chân phải nhưng vết thương nhẹ nên vẫn tiếp tục chiến đấu. Trận ấy, đơn vị chúng tôi giành thắng lợi. Tôi được phong quân hàm từ binh nhất lên thượng sĩ, giữ chức Trung đội phó”, ông Uỵch nhớ lại.
Trong một lần làm nhiệm vụ nhận gạo, lương thực cho đơn vị vào tháng 12-1969, ông Kiều Văn Uỵch không may rơi vào tay địch. Nhớ lại những ngày đầu bị bắt, ông kể: “Tôi bị nhốt trong một căn phòng nhỏ. Trên tường, chúng vẽ những cảnh tra tấn rùng rợn để thị uy. Chúng tra hỏi về tên tuổi, gia đình, đơn vị... Thấy tôi khai không thống nhất, chúng liên tiếp đánh đập. Dù bị tra tấn, tôi vẫn không khai thêm điều gì”.
Đó là quãng thời gian ông bị giam giữ tại Đà Nẵng trước khi bị chuyển ra Nhà tù Phú Quốc. Sau một tháng giam giữ ở đất liền, ông bị đưa ra đảo. Những tháng ngày trong lao tù là chuỗi thử thách khắc nghiệt với đòn roi, đói khát, những trận tra tấn dã man và nhiều lần bị nhốt trong “chuồng cọp” giữa nắng mưa khắc nghiệt.
Thế nhưng, với người chiến sĩ cách mạng, nơi ấy lại trở thành phép thử của ý chí. Không khuất phục, không khai báo, ông cùng đồng đội bí mật liên lạc, duy trì sinh hoạt Đảng, kiên quyết đấu tranh trước mọi hình thức ép buộc của địch. Chính niềm tin ấy đã giúp ông và nhiều đồng chí đứng vững giữa lằn ranh sinh tử.
Theo sự phân công, ông cùng một số tù binh kiên quyết đấu tranh, không hợp tác. Ông nhớ lại: “Địch bắt nhổ cỏ, làm hàng rào... nhưng chúng tôi không làm. Chúng đánh đập dã man vào đầu gối, mắt cá chân, lưng, vai. Sau đó nhốt vào "chuồng cọp", phơi nắng gần 20 ngày. Tôi cao 1m70, phải ngồi lom khom trong chiếc lồng sắt chằng kín dây thép gai, rộng 80cm, dài 1m, cao 70cm. Chuồng cọp đặt giữa bãi cát, người tù chỉ được mặc quần đùi. Ban ngày nắng rát như đổ lửa, cát nóng như rang. Ban đêm gió biển lạnh, thỉnh thoảng chúng lại múc nước dội từ đầu xuống. Mỗi ngày chỉ có một nắm cơm với muối và một ca nước. Nếu bị phát hiện tiếp tế, chúng dùng hình thức tra tấn gọi là "B52 ném bom", lấy ni-lông đốt chảy nhỏ xuống da. Nhiều đồng chí tuổi cao, sức yếu, chỉ sau vài hôm đã hy sinh".

Ông Kiều Văn Uỵch bồi hồi kể lại ký ức hào hùng thời kháng chiến của mình. Ảnh: Hồng Nhung
Dù bị tra tấn tàn bạo, niềm tin vẫn không lay chuyển. “Điều tôi sợ không phải là địch, mà là không vượt qua được thử thách, không giữ được khí tiết”, ông Uỵch bồi hồi.
Năm 1972, địch lập trại biệt lập C8 để giam những người bị coi là “cứng đầu”. Dù tra tấn khắc nghiệt nhưng những người bị đưa vào đây đều rất kiên cường. Sau 3 năm 4 tháng 7 ngày bị giam cầm, năm 1973, ông Uỵch được trao trả. Năm 1974, Thượng sĩ Kiều Văn Uỵch, Trung đội phó C20-565, Cục hậu cần Khu 5 được Thủ trưởng đơn vị trao Giấy khen vì có thành tích đấu tranh trong tù.
Trở về với nhiều di chứng thương tật, ông bị nhiễm chất độc da cam 60%. Năm 1979, ông tiếp tục giấu vợ con, viết đơn xung phong tham gia chiến đấu tại mặt trận Bình Gia (Lạng Sơn). “Thời trai trẻ xung phong đi bộ đội, sau có 2 con rồi, tôi vẫn tiếp tục xung phong đi đánh giặc”, ông nói đầy hào sảng.
Giữ lửa, trao truyền lịch sử cách mạng cho thế hệ trẻ
Trở về đời thường, ông Kiều Văn Uỵch tiếp tục lao động, xây dựng gia đình và tham gia công tác xã hội. Đồng hành cùng ông là bà Vũ Thị Bạc, người vợ tần tảo, luôn lặng lẽ sẻ chia, động viên. Những mất mát, hy sinh trong chiến tranh càng khiến tình nghĩa vợ chồng thêm bền chặt, trở thành điểm tựa để ông tiếp tục cống hiến.
Tuy nhiên, điều khiến ông trăn trở hơn cả là làm sao để ký ức chiến tranh không rơi vào lãng quên. Từ suy nghĩ ấy, khi ông Lâm Văn Bảng chia sẻ tâm huyết xây dựng phòng truyền thống, ông Kiều Văn Uỵch đã cùng đồng đội đi sưu tầm hiện vật, góp công gây dựng. Đến nay, Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày đã trở thành “địa chỉ đỏ”, lưu giữ những câu chuyện chân thực về một thời oanh liệt, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay.

Vợ chồng ông Kiều Văn Uỵch. Ảnh: Hồng Nhung
Ở tuổi xế chiều, dù sức khỏe giảm sút do thương tật và di chứng chất độc da cam, ông Kiều Văn Uỵch vẫn đều đặn đến Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, đặt tại khuôn viên gia đình ông Lâm Văn Bảng (xã Phú Xuyên, Hà Nội). Trong không gian giản dị của bảo tàng, ông cẩn thận lau từng kỷ vật, sắp lại những bức ảnh đã úa màu thời gian. Mỗi hiện vật là một câu chuyện, một số phận. Có người đã trở về, có người mãi mãi nằm lại chiến trường. Những kỷ vật ấy không chỉ là dấu tích chiến tranh mà còn là chứng tích sống động của một thời “địa ngục trần gian”, nơi các chiến sĩ cách mạng bị tra tấn dã man nhưng vẫn giữ trọn khí tiết.
Không chỉ là nơi trưng bày hiện vật, bảo tàng còn là không gian để những nhân chứng lịch sử kể lại câu chuyện phía sau từng kỷ vật thiêng liêng. Với ông Uỵch, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là tâm nguyện. “Chúng tôi kể lại không phải để nhắc về nỗi đau mà để thế hệ sau hiểu hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương. Khi các cháu biết trân trọng những gì mình đang có, đó là điều chúng tôi mong mỏi nhất”, ông Uỵch chia sẻ.

Ông Kiều Văn Uỵch (thứ hai từ phải sang) tại buổi nói chuyện truyền thống nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Phú Xuyên, Hà Nội). Ảnh: Thanh Xuân
Mỗi dịp hè, hay vào các ngày lễ lớn như 30-4, 27-7, 2-9, học sinh đến tham quan ngày càng đông. Ông Uỵch với giọng chậm rãi nhưng đầy xúc động, tái hiện ký ức chiến tranh qua từng hiện vật trưng bày, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn giá trị của hòa bình hôm nay.
Khi dẫn khách tham quan, ông thường nhắc nhẹ: “Xin quý khách đi nhẹ chân một chút, vì ở đây có hồn của đồng đội tôi”. Câu nói giản dị ấy khiến nhiều người lặng đi khi bước vào không gian bảo tàng.
Những ký ức chiến tranh rồi sẽ lùi xa theo năm tháng nhưng tinh thần kiên trung, ý chí vượt lên nghịch cảnh và khát vọng cống hiến của những người lính như ông Kiều Văn Uỵch vẫn tiếp tục được trao truyền, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần bền bỉ cho hôm nay và các thế hệ mai sau.
Năm 1985, ông Kiều Văn Uỵch được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Năm 1997, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày cho ông Kiều Văn Uỵch vì đã nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 2024, ông được trao danh hiệu “Người tốt, việc tốt” của thành phố Hà Nội. Ông cũng vinh dự nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp vì đóng góp trong gìn giữ, trao truyền truyền thống cho thế hệ trẻ.











