Người lính và 'mối duyên' dầu khí
Một lần khoác áo lính, một đời gắn với dầu khí
Sinh ra ở Nghệ An, lớn lên tại Hà Nội, năm 1974, TS Nguyễn Hữu Trung là một trong những học sinh ưu tú được cử đi học ở nước ngoài. Sau 5 năm học tập tại Rumani, Liên Xô và một số nước Đông Âu, được đào tạo chuyên sâu về khoan, khai thác dầu khí, ông trở về đúng lúc đất nước bước vào giai đoạn đầy thử thách.
Chàng kỹ sư trẻ khi ấy mang theo nhiều dự định nghề nghiệp. Nhưng tình hình biên giới khiến kế hoạch thay đổi. Theo lệnh tổng động viên, ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ. “Dường như có một mối duyên đã gắn tôi với ngành dầu khí khi tôi lên đường làm nghĩa vụ quân sự thì được phân về Binh đoàn 318 Dầu khí đi xây dựng căn cứ tiền đề cho ngành tại Vũng Tàu”, ông Trung nhớ lại.

TS Nguyễn Hữu Trung nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN năm 2012
Chỉ sau 3 tháng huấn luyện tân binh, ông được điều động về Binh đoàn 318 vào tháng 7-1980. Đây là thời điểm đơn vị này được chuyển thành Binh đoàn 318 Dầu khí, thực hiện những nhiệm vụ quan trọng phục vụ quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng dầu khí tại Vũng Tàu (nay thuộc TP Hồ Chí Minh), đồng thời đảm nhiệm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong khu vực.
Những công việc ấy đưa người lính trẻ đến đúng nơi ngành dầu khí Việt Nam đang hình thành một trung tâm công nghiệp mới.
3 năm sau, khi Binh đoàn 318 chuyển sang Tổng cục Dầu khí và tổ chức lại thành Xí nghiệp Liên hiệp Xây lắp Dầu khí, ông có tên trong danh sách dự kiến chuyển về Vietsovpetro.
Nhưng khi đó Viện Dầu khí Việt Nam đang cần cán bộ có chuyên môn để xây dựng các phòng thí nghiệm còn rất sơ khai. Viện trưởng Hồ Đắc Hoài đã nhận ông về viện. Từ một người lính vừa hoàn thành nghĩa vụ, TS Nguyễn Hữu Trung bắt đầu một hành trình mới, trở thành nhà nghiên cứu dầu khí.
Từ phòng thí nghiệm đến những mỏ dầu
Những ngày đầu ở Viện Dầu khí, ông tập trung vào công việc căn bản như lắp đặt thiết bị, xây dựng quy trình phân tích, xử lý và minh giải mẫu đất đá, chất lưu dầu khí. “Lúc đó mình còn trẻ nên hăng hái lắm, xuống đến phòng thí nghiệm là bắt tay ngay vào những công việc đầu tiên”, ông Trung kể.
Khó khăn lớn nhất là điều kiện nghiên cứu còn thiếu thốn. Nguồn tài liệu mà các nhà khoa học tiếp cận chủ yếu đến từ Liên Xô và các nước Đông Âu, trong khi nhiều quy trình, tiêu chuẩn phòng thí nghiệm lại phải tiếp cận theo hướng hiện đại của phương Tây. Thiếu thiết bị, thiếu tài liệu, thiếu kinh nghiệm thực nghiệm, những người trẻ khi ấy phải tự học, tự làm và từng bước hình thành năng lực nghiên cứu cho viện.
Cùng với sự phát triển của ngành, những câu hỏi mà các nhà khoa học phải giải quyết cũng ngày càng lớn.
Những năm đầu, hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm, thăm dò tập trung ở Tiền Hải, Thái Bình (nay là Hưng Yên). Nhưng khi hoạt động dầu khí dịch chuyển mạnh ra thềm lục địa phía Nam, đặc biệt là các bể trầm tích ngoài khơi, đội ngũ nghiên cứu cũng phải thay đổi tư duy. Không thể chỉ nghiên cứu trên những dữ liệu và điều kiện quen thuộc, họ phải tiến ra biển, tiếp cận những cấu tạo địa chất phức tạp hơn và những bài toán khai thác ngày càng khó.
Với TS Nguyễn Hữu Trung, đó cũng là lúc ông tiếp tục con đường học tập. Năm 1988, ông được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh về khai thác thứ cấp, bơm ép nước và nâng cao hệ số thu hồi dầu. Sau 4 năm nghiên cứu, ông trở về Việt Nam, sau đó được điều động vào phía Nam tham gia đào tạo và xây dựng cơ sở 2 của Viện Dầu khí Việt Nam.
Từ phòng thí nghiệm, ông đi vào những bài toán của mỏ. Một trong những hướng nghiên cứu quan trọng mà ông theo đuổi là nâng cao hệ số thu hồi dầu, bài toán càng có ý nghĩa khi các mỏ bước vào giai đoạn khai thác lâu năm. Ở đây, khoa học phải trả lời câu hỏi là làm thế nào để lấy được phần dầu còn nằm lại trong không gian phức tạp của vỉa chứa?
Ông Trung là chủ biên đề tài “Bơm ép Polime vào các tầng móng nứt nẻ để gia tăng thu hồi dầu khí”, thuộc cụm công trình “Phát hiện và khai thác có hiệu quả dầu khí trong đá móng nứt nẻ Granitoid ở thềm lục địa Việt Nam”, công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2012.
Tại Bạch Hổ, tầng móng nứt nẻ có cấu trúc phức tạp, dầu còn tồn tại trong các hệ thống khe nứt, vi khe nứt mà nước bơm ép khó tiếp cận. Vì thế, mỗi giải pháp nâng cao thu hồi dầu đều phải bắt đầu từ việc hiểu thật rõ cấu trúc vỉa, đặc điểm dòng chảy và khả năng tác động vào phần dầu còn lại.
Với ông Trung, khoa học dầu khí có lẽ không có ranh giới rõ ràng giữa “nghiên cứu” và “sản xuất”. Kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có giá trị khi nó giúp giải quyết được vấn đề của mỏ, nâng thêm một phần sản lượng hoặc mở ra khả năng khai thác nguồn tài nguyên trước đây chưa thể khai thác.
Khi khoa học trở thành giá trị của mỏ
Có một câu chuyện mà mỗi khi nhắc lại, ông Trung vẫn tỏ rõ sự hào hứng, đó là quá trình cùng đồng nghiệp tham gia đàm phán với Rusvietpetro về kế hoạch nâng cao sản lượng khai thác.
Theo ông, để thuyết phục phía Nga thay đổi phương án phát triển mỏ, nhóm chuyên gia Việt Nam phải chuẩn bị trong hơn 1 năm. Cuộc đàm phán thực tế chỉ diễn ra trong một buổi sáng, nhưng phía Việt Nam đã đưa ra những luận cứ khoa học đủ sức thuyết phục đối tác chấp thuận phương án phát triển, qua đó nâng sản lượng thu hồi thêm hơn 2 triệu tấn dầu so với phương án ban đầu.
Câu chuyện ấy cho thấy một điều xuyên suốt trong hành trình của TS Nguyễn Hữu Trung là trí tuệ khoa học phải được chuyển hóa thành giá trị thực tế.

TS Nguyễn Hữu Trung
Từ người học dầu khí ở Đông Âu đến người lính xây dựng những công trình đầu tiên của ngành tại Vũng Tàu; từ phòng thí nghiệm còn thiếu thốn đến những công trình khoa học được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh; từ những nghiên cứu về bơm ép nước, nâng cao hệ số thu hồi dầu đến những cuộc đàm phán phát triển mỏ ở nước ngoài..., hành trình của ông Trung luôn gắn với những nơi ngành dầu khí đặt ra bài toán mới.
Khi nhìn lại hơn 30 năm gắn bó với Viện Dầu khí, ông không nói nhiều về những chức vụ hay danh hiệu đã nhận. Điều ông nhắc nhiều hơn là những con người đã cùng mình đi qua thời kỳ khó khăn, khi phòng thí nghiệm còn sơ khai, thiết bị và tài liệu còn thiếu, nhưng khát vọng làm chủ khoa học dầu khí ngày càng lớn.
Nếu gọi đó là “mối duyên”, thì đó cũng là thứ duyên được tạo nên từ lựa chọn của cả một thế hệ, lựa chọn ở lại với ngành, học hỏi không ngừng và biến kiến thức được đào tạo ở nước ngoài thành năng lực nghiên cứu của Việt Nam. Một người lính trở về với phòng thí nghiệm. Một nhà khoa học trưởng thành từ những năm tháng thiếu thốn. Và sau cùng, một thế hệ cán bộ góp phần tạo nên năng lực trí tuệ cho ngành dầu khí Việt Nam.
Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/nguoi-linh-va-moi-duyen-dau-khi-747471.html

