Người thương binh và những vần thơ trăn trở
Vào một ngày tháng Sáu trời nắng chang chang, tôi có cơ duyên được ngồi đối diện với Đại tá Quân đội - nhà thơ Hồ Triệu Sơn, trong ngôi nhà của ông, số 89, tổ 56, phường Phan Đình Phùng,
Vào một ngày tháng Sáu trời nắng chang chang, tôi có cơ duyên được ngồi đối diện với Đại tá Quân đội - nhà thơ Hồ Triệu Sơn, trong ngôi nhà của ông, số 89, tổ 56, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên. Tên khai sinh của ông là Hà Thanh Vị - một cái tên nghe thanh tao, mang cốt cách của một người thuộc về thế giới văn chương hơn là người đã có bốn mươi năm khoác trên mình bộ quân phục.

Tác giả Hồ Triệu Sơn.
Khi tôi tò mò hỏi về bút danh Hồ Triệu Sơn. Ông cười nhẹ, ánh mắt như đang hướng về nguồn cội xa xăm:
- Ông tổ tôi họ Hồ quê ở Triệu Sơn - Thanh Hóa. Khoảng mười đời trước, cụ ra đất Duy Tiên - Hà Nam để dạy học, cải sang họ Hà rồi sinh cơ lập nghiệp tại đây. Cái tên Hồ Triệu Sơn mang theo tâm nguyện đau đáu suốt đời tôi, như một lời nhắc nhở về gốc gác thiêng liêng và ước nguyện được trở về với dòng họ cũ của mình.
Đằng sau mái tóc bạc phơ và cái dáng gầy gò của một người đàn ông đã bước qua tuổi “thất thập” là cả một pho lịch sử sống động về những năm tháng thăng trầm của đất nước. Ông là thương binh, mang trên mình tỉ lệ thương tật 29%. Nhìn ánh mắt lấp lánh của ông, tôi cảm nhận được nguồn năng lượng sống dồi dào tỏa ra từ người lính già ấy. Đón chén trà từ tay ông mời, vừa chậm rãi nhấp từng ngụm nhỏ, tôi vừa hình dung ra một thời oanh liệt qua lời kể của ông.
Sinh ra và lớn lên ở Duy Tiên, Hà Nam, thời đi học, cậu bé Hà Thanh Vị nổi tiếng giỏi văn, từng đoạt giải Ba toàn quốc về bình giảng bài thơ “Mẹ Tơm” của nhà thơ Tố Hữu. Với thành tích xuất sắc đó, ông trúng tuyển vào Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1968.
Cùng năm đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go. Lệnh Tổng động viên vang lên toàn miền Bắc. Chàng trai 18 tuổi gác lại ước mơ làm sinh viên để tham gia nhập ngũ, bước vào ba chiến dịch ở Cánh Đồng Chum - Siêng Khoảng. Hoàn thành nhiệm vụ tại chiến trường Lào, ông trở về Việt Nam, tiếp tục chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Đến ngày thứ 28 của chiến dịch 82 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, ông bị một mảnh đạn pháo găm thẳng vào đầu gối. Cùng lúc đó, một quả bom lớn nổ gần hầm chỉ huy, vì ảnh hưởng của sức ép nên tai trái ông đã bị mất đi thính lực. Khi vết thương hoàn toàn bình phục, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây. Sau đó tiếp tục tham gia cuộc tổng tấn công mùa xuân năm 1975.
Với lòng quả cảm và những thành tích đã đạt được trong chiến đấu, ông được Nhà nước trao tặng “Huân chương Chiến công hạng Nhất” và được tham gia khóa học quân sự cấp cao tại Học viện Khoa học Quân sự ở Liên Xô.
Ba năm sau, trở về nước, Hồ Triệu Sơn tiếp tục phục vụ trong quân đội. Năm 1990 ông được phân công giữ chức vụ Trưởng phòng 2, Chủ nhiệm Quân báo Quân khu 1. Trong suốt quá trình công tác, ông vinh dự được trao tặng “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì”. Rời xa tay súng và ngành quân báo mật, Đại tá Hồ Triệu Sơn trở về nghỉ chế độ năm 2006, đó cũng là cột mốc ông bắt đầu cầm bút viết thơ để "trả nợ" ký ức.
Khi tôi hỏi về kỷ niệm nào ở chiến trường mà ông nhớ nhất? Người cựu binh già nhấp một ngụm nước trà, đôi mắt nhìn đăm đắm ra khoảng sân đầy nắng. Bằng giọng trầm buồn, ông kể:
- Hồi còn ở chiến trường bên nước bạn Lào, một biến cố suýt chút nữa đã thay đổi cuộc đời tôi, xảy ra trong một chuyến đi trinh sát luồn sâu vào lòng địch. Đêm đó, toán trinh sát của tôi có nhiệm vụ áp sát đồn địch để vẽ sơ đồ bố phòng. Tôi là đại đội trưởng nên trong người luôn phải mang theo tấm bản đồ bằng tiếng Việt. Trong lúc mò mẫm giữa đêm tối, tôi không may chạm vào quả mìn. Tiếng nổ xé toạc không gian, may mắn cạnh đó có một gốc cây cổ thụ che chắn nên không bị thương. Địch bắt đầu bắn xối xả về hướng có tiếng nổ, tôi phải vất vả bò lết trong đêm để rút về đơn vị. Khi về đến nơi an toàn, tôi mới hốt hoảng phát hiện ra tấm bản đồ cất trong ngực áo đã không còn. Việc làm mất bản đồ quân sự là sai lầm cực kỳ nghiêm trọng. Tôi bị cấp trên quở trách nghiêm khắc và nhận mệnh lệnh: bằng mọi giá phải lấy lại được tấm bản đồ đó. Sáng hôm sau, từ trên đài quan sát nhìn xuống đồn địch, tôi thấy tấm bản đồ đang bị chúng treo trên hàng rào dây thép gai. Biết đó là cái bẫy nguy hiểm, nhưng lòng tự trọng của người lính, không cho phép mình hèn nhát. Suốt một ngày trời, tôi ngồi nghiên cứu địa hình, vạch ra phương án tác chiến rồi trình lên ban chỉ huy. Được phê duyệt, tôi dẫn theo một tiểu đội yểm trợ phía sau.
Để tránh tầm quét của đèn pha và đạn bắn thẳng từ lô cốt, tôi đã đào một cái hố ngầm chui qua hàng rào dây thép gai. Tôi vừa bò, vừa dò tìm, gỡ được bốn quả mìn để tiếp cận hàng rào, nhẹ nhàng lấy sợi dây dù mang theo buộc vào tấm bản đồ rồi kéo về phía mình. Ngay khi tấm bản đồ vừa nằm gọn trong tay và vừa chui tọt được người xuống cái hố ngầm để rút lui, thì một tiếng nổ chói tai vang lên phía trên do chấn động kích nổ mìn bẫy. Lập tức, cả khu đồi bừng lên màu sáng trắng. Hàng trăm quả pháo sáng liên tục bắn ra nhuộm trắng xóa không gian, đạn đại liên bắn xối xả xuống mặt đất. Chờ một lúc lâu khi tiếng đạn đã im bặt, chúng tôi mới rút về đơn vị an toàn. Sau này, mỗi lần nhớ lại tôi vẫn còn day dứt, cũng may hôm ấy không có ai bị thương chứ nếu có, chắc cả đời tôi sẽ sống trong nỗi dày vò ân hận. Đấy chính là một kỷ niệm mà tôi cảm thấy tự hào nhất trong suốt cuộc đời làm lính của mình."
Mắt ông lấp lánh niềm vui khi nhớ lại thời khắc thiêng liêng ấy. Và theo lời kể của ông: Bằng sự mưu trí, gan dạ và những hành động dũng cảm "vào hang cọp" để sửa sai của ông khiến toàn đơn vị khâm phục. Ngay sau trận đánh đó, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Khi tôi hỏi: có nỗi đau nào ám ảnh nhất đời lính của ông? nụ cười trên môi ông tắt lịm, đôi bàn tay gầy guộc khẽ run lên, ông bùi ngùi nhớ lại.
- Chiến tranh không chỉ có chiến công hay huân chương. Đằng sau vinh quang là những khoảng lặng đau đớn mà người ở lại phải mang theo suốt đời. Đó là 28 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị, ngày nào đại đội tôi cũng được bổ sung 18 chiến sĩ mới từ tuyến sau vào. Họ đều là những chàng trai mười chín, đôi mươi. Trong cảnh bom đạn ác liệt, thứ tôi nhận là một danh sách, chỉ kịp đọc tên các đồng chí ấy trên giấy tờ, phân công về từng hầm phòng thủ chứ chưa kịp xuống gặp mặt. Thế rồi... chỉ qua một đêm bom gầm pháo dập, trận địa bị cày nát. Bao chiến sĩ đã hy sinh trong đó có những người vừa biên chế vào đại đội. Ngày hôm sau, hôm sau nữa lại tiếp diễn như thế... Trong những ngày điều trị vết thương, thỉnh thoảng tôi giật mình bật dậy, ngỡ như đang đứng giữa Thành cổ để tìm kiếm gương mặt của những người đồng đội trẻ...
Ông dừng lại, quệt nhẹ giọt nước mắt chực trào nơi khóe mắt đầy vết chân chim.
Qua phim ảnh và tài liệu lịch sử, tôi cũng hiểu chiến trường Quảng Trị những ngày ấy là một "chảo lửa" khổng lồ bị bom đạn cày nát, đất đá trộn lẫn máu xương. Ngày nào cũng diễn ra cảnh tượng tang thương như thế, bảo sao một người làm Đại đội trưởng như ông không cảm thấy ám ảnh? Nỗi đau ấy, cho đến tận bây giờ, mỗi khi có ai nhắc đến đều khiến ông không thể không nghẹn ngào.

Một số cuốn sách của tác giả Hồ Triệu Sơn.
Để xua đi những phút giây xúc động tôi hỏi:- Trong thời gian ở chiến trường, ông đã có tác phẩm nào chưa; tác phẩm đầu tay ông viết khi nào?Nghe nhắc đến thơ, nét mặt ông liền giãn ra:- Thời gian ở chiến trường, tôi dành cho việc lớn lao hơn nên không có tâm trí cho thơ nhưng mơ ước văn chương luôn canh cánh bên lòng. Đến năm 2006, chính thức được nghỉ chế độ tôi mới bắt đầu sáng tác. Người thương binh có nhiều trăn trở lắm chị ạ. Những tác phẩm của tôi chủ đề rất đa dạng, về tình yêu, về quê hương đất nước, về cha mẹ và đặc biệt viết về những người lính. Những buổi đi trinh sát luồn sâu, những phương án tác chiến cân não, và tình cảm đồng chí keo sơn... đã găm sâu vào tâm trí tôi. Khi an nhàn, những ký ức ấy thường sống lại, thôi thúc tôi viết, vừa để tri ân những đồng đội đã ngã xuống, vừa lưu lại cho con cháu hiểu được những giá trị máu xương của cha ông trong công cuộc bảo vệ đất nước.Tôi nhìn sâu vào đôi mắt mang nhiều nỗi tâm tư của ông, khẽ lặp lại câu nói: "Người thương binh có nhiều điều trăn trở lắm". Ông gật đầu, nói tiếp:- Trăn trở nhiều nhất vẫn là quá khứ, là nỗi ám ảnh của những người đồng đội ngã xuống khi tuổi đời mới đôi mươi, Trăn trở vì mình may mắn sống sót, được trở về, được hưởng thái bình, còn thịt xương đồng đội đã hòa vào đất mẹ Quảng Trị hay tan vào cây cỏ ở Cánh Đồng Chum. Vì thế tôi hy vọng, mỗi vần thơ của mình sẽ là một nén tâm hương "trả nợ" những người đã ngã xuống. Và cả trăn trở những khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại đau nhức...Khi tôi hỏi về những thành tựu văn học mà ông đã đoạt được, ông khiêm tốn nói. - Tôi viết rất nhiều và hầu như bài nào cũng được đăng báo nhưng để in thành tập thì bây giờ tôi mới chỉ có 5 tập. Tôi cũng đã đoạt giải Ba của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và giải 5 năm của tỉnh nhà. Nhưng niềm vui lớn nhất của tôi là có mấy tác phẩm được sống trong lòng công chúng. Ba bài thơ trong tập “Mưa Bụi” đã được NSƯT Hoàng Thiện Thực dàn dựng thành tác phẩm múa đại diện cho tỉnh tham gia Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Một bài thơ nằm trong tập trường ca được nhạc sĩ Vũ Lực phổ nhạc thành bài hát “Núi rừng bừng sáng”, được hát ở Nhà tưởng niệm ATK Định Hóa. Đặc biệt, bài thơ “Tổ quốc tôi” đã được lựa chọn làm đề thi môn Ngữ văn của Kỳ thi tốt nghiệp THPT tỉnh Thanh Hóa năm học 2021 - 2022. Ngoài ra, tôi còn làm tặng thơ cho doanh nghiệp đóng trên địa bàn và đều được họ trân trọng phổ nhạc làm bài ca truyền thống của công ty...Cuộc sống thường nhật của người cựu chiến binh diễn ra bình dị. Ban ngày, ông dành trọn thời gian chăm sóc mấy đứa cháu nội. Chỉ khi đêm về khuya, ông mới lặng lẽ trở về với thế giới của riêng mình, bầu bạn với cây bút dưới ánh đèn bàn ấm áp. Thơ ông luôn là một sự trăn trở về những ký ức xa xăm.Tôi hỏi: “trong năm nay, ông có dự định gì?”, ông cho biết: Bước sang năm nay, dù sức khỏe có giảm sút nhưng sức sáng tác của ông lại bùng nổ mạnh mẽ. Dự định cuối năm sẽ cho xuất bản một tập thơ, tập này ông vẫn viết về những người lính, về những trăn trở của người thương binh.Ông giở sổ tay, đọc cho tôi nghe bài thơ ông vừa sáng tác để gửi tới số báo kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 có tên “dấu chân tròn vấp”. Một bài thơ chỉ cần nghe tên thôi mà tôi đã thấy lòng gợn lên một sự trăn trở.Giọng đọc của ông lúc trầm, lúc bổng, có cái hào sảng của người lính trinh sát năm nào, nhưng cũng có cái nghẹn ngào của người đã chứng kiến quá nhiều hy sinh.Tôi chia tay nhà thơ Hồ Triệu Sơn sau một cái bắt tay thật chặt. Bàn tay gầy guộc mang vết chai sạn của thời gian luôn cho người ta cảm giác ấm áp, tin cậy. Tôi bước ra khỏi cổng, ngoài trời đã đứng bóng, cái nắng tháng Sáu trút xuống chói chang nhưng bên tai tôi vẫn văng vẳng nhịp điệu của những câu thơ ông vừa đọc:“...Người thương binh ấy rất gầyLòng nhân năm tháng đong đầy tình yêuDấu chân tròn vấp liêu xiêuLà khi bất chợt gặp nhiều câu thơ...”.Tôi hiểu, đoạn thơ ấy ông viết cho chính mình, nhưng đồng thời cũng là tiếng nói chung của những người thương binh nguyện cống hiến suốt đời cho Tổ quốc, nhân dân.











