Người trẻ với sứ mệnh giữ hồn di sản trong kỷ nguyên số

Bước vào thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, di sản văn hóa đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ khiến nhiều giá trị truyền thống có nguy cơ bị lãng quên; nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đứng trước bài toán thiếu người kế tục; không ít làng nghề truyền thống chật vật tìm chỗ đứng trong nền kinh tế hiện đại.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định những định hướng chiến lược nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu: “Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa”.

Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản gắn với sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế di sản. Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, không thể thiếu vai trò của thế hệ trẻ – những người vừa là chủ thể tiếp nối truyền thống, vừa là lực lượng sáng tạo trong thời đại số.

Khi người trẻ không còn đứng ngoài di sản

Trong một thời gian dài, nhiều người từng cho rằng giới trẻ ngày càng xa rời truyền thống, chỉ quan tâm đến các xu hướng văn hóa hiện đại. Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây đang cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác.

Ngày càng nhiều bạn trẻ chủ động tìm về với lịch sử dân tộc. Họ không chỉ đọc sách, tham quan bảo tàng hay di tích lịch sử mà còn trực tiếp tham gia các hoạt động phục dựng, nghiên cứu và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống. Sự trở lại mạnh mẽ của phong trào cổ phục Việt là một minh chứng tiêu biểu.

Khoảng một thập niên trước, khái niệm áo Nhật Bình, áo Tấc, áo Ngũ thân hay Giao lĩnh còn khá xa lạ với đa số thanh niên. Thế nhưng hiện nay, những bộ trang phục từng xuất hiện trong lịch sử đã trở thành đối tượng nghiên cứu nghiêm túc của nhiều nhóm bạn trẻ như Vạn Thiên Y, Đại Việt Cổ Phong, Vietnam Centre,… và các cộng đồng nghiên cứu văn hóa truyền thống.

Từ việc khảo cứu tư liệu, đối chiếu hiện vật trong bảo tàng đến phục dựng hoa văn, chất liệu và kỹ thuật may mặc, nhiều người trẻ đã dành hàng năm trời để đưa cổ phục Việt trở lại đời sống đương đại.

Không còn giới hạn trong các hội thảo học thuật, cổ phục xuất hiện tại các lễ hội văn hóa, sự kiện cộng đồng, lễ tốt nghiệp, chương trình nghệ thuật và cả trong đời sống thường nhật của một bộ phận giới trẻ. Đó không đơn thuần là một trào lưu thời trang. Đó là hành trình tìm lại ký ức văn hóa dân tộc bằng ngôn ngữ của thế hệ mới.

Không chỉ phục dựng những giá trị văn hóa vật thể, nhiều người trẻ còn đang góp phần hồi sinh các làng nghề truyền thống. Tại Bát Tràng, thế hệ nghệ nhân trẻ đã ứng dụng thương mại điện tử, truyền thông số và thiết kế hiện đại để đưa gốm Việt tiếp cận khách hàng trong và ngoài nước.

Tại Huế, nhiều dự án khởi nghiệp của thanh niên tập trung vào việc bảo tồn các nghề truyền thống như pháp lam, thêu cung đình, chế tác thủ công mỹ nghệ gắn với văn hóa triều Nguyễn. Ở Bắc Ninh, tranh Đông Hồ đã được các nhà thiết kế trẻ đưa vào thời trang, đồ họa, sản phẩm lưu niệm và các chiến dịch truyền thông sáng tạo.

Nếu trước đây việc tìm hiểu lịch sử chủ yếu diễn ra trong nhà trường hoặc sách vở thì ngày nay, lịch sử đang được kể bằng ngôn ngữ của TikTok, YouTube, Facebook và các nền tảng số. Nhiều nhà sáng tạo nội dung trẻ tuổi đã lựa chọn lịch sử và văn hóa dân tộc làm chủ đề chính cho các sản phẩm của mình.

Những video ngắn về Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Cố đô Huế,… hay các nhân vật lịch sử Việt Nam thu hút hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu lượt xem. Điều đáng nói là họ không chỉ truyền tải kiến thức mà còn làm cho lịch sử trở nên gần gũi, sinh động và hấp dẫn hơn với thế hệ trẻ.

Họa sĩ trẻ Nam Chi - người đam mê “giữ lửa” tranh dân gian truyền thống. (Ảnh: PV)

Sự thay đổi ấy phù hợp với định hướng của Nghị quyết 80 khi xác định phát triển văn hóa phải gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài nguyên văn hóa số.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu: “Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa”.

Những mục tiêu ấy sẽ khó trở thành hiện thực nếu thiếu sự tham gia của lực lượng trẻ – những người am hiểu công nghệ và có khả năng sáng tạo nội dung trên môi trường số.

Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định những định hướng chiến lược nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. (Nguồn: bvhttdl.gov.vn)

Di sản cần được sống trong cộng đồng

Nghị quyết 80 khẳng định: “Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân... Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng”. Điều đó cho thấy bảo tồn di sản không phải nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý hay giới nghiên cứu. Di sản chỉ thực sự được bảo tồn khi nó hiện diện trong đời sống cộng đồng. Người trẻ chính là lực lượng có khả năng làm điều đó tốt nhất.

Họ có tri thức, có khả năng tiếp cận công nghệ, có sức sáng tạo và có khả năng kết nối cộng đồng trên quy mô lớn. Một video lan tỏa lịch sử, một dự án số hóa di sản, một bộ sưu tập thời trang lấy cảm hứng từ văn hóa dân tộc hay một sản phẩm âm nhạc mang âm hưởng truyền thống đều có thể trở thành cây cầu đưa di sản đến gần hơn với xã hội.

Thực tế cho thấy nhiều bạn trẻ ngày nay không chỉ quan tâm đến văn hóa Việt Nam mà còn chủ động bảo vệ các giá trị ấy trước nguy cơ bị xuyên tạc hoặc thương mại hóa quá mức. Họ tham gia các diễn đàn nghiên cứu lịch sử, các nhóm phục dựng văn hóa, các dự án bảo tồn di sản địa phương và nhiều hoạt động cộng đồng khác. Đó là những tín hiệu tích cực cho thấy di sản không hề bị lãng quên trong thế hệ trẻ như nhiều người từng lo ngại.

Nghị quyết 80 yêu cầu: “Trọng dụng, tôn vinh, giải phóng sức sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để các chuyên gia, trí thức, văn nghệ sĩ tài năng và học sinh, sinh viên có năng khiếu vượt trội trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được bồi dưỡng, rèn luyện, sáng tạo, cống hiến, phát triển”. Đây không chỉ là định hướng cho ngành văn hóa mà còn là lời hiệu triệu đối với thế hệ trẻ.

Trong kỷ nguyên số, bảo tồn di sản không còn đồng nghĩa với việc lưu giữ nguyên trạng một cách thụ động. Đó là quá trình sáng tạo liên tục để các giá trị truyền thống thích ứng với đời sống mới. Người trẻ cần được tạo điều kiện để trở thành những nhà sáng tạo văn hóa, những doanh nhân văn hóa, những nhà nghiên cứu, nghệ sĩ hay nhà truyền thông mang trong mình trách nhiệm với di sản dân tộc.

Bởi suy cho cùng, di sản không phải là những gì nằm lại phía sau. Di sản là những giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác để tiếp tục sống trong hiện tại và tương lai.

Khi một người trẻ mặc cổ phục với niềm tự hào về lịch sử dân tộc; khi một nghệ sĩ đưa âm hưởng dân gian vào tác phẩm mới; khi một nhà sáng tạo nội dung kể lại câu chuyện lịch sử bằng ngôn ngữ số; khi một thanh niên trở về làng nghề để khởi nghiệp từ những giá trị truyền thống, họ đang góp phần giữ gìn hồn cốt văn hóa Việt Nam theo cách riêng của mình.

Trong hành trình hiện thực hóa Nghị quyết 80-NQ/TW, người trẻ không chỉ là người thừa hưởng di sản. Họ chính là những người “tiếp lửa” cho di sản, làm cho những giá trị ngàn năm của dân tộc tiếp tục tỏa sáng trong kỷ nguyên mới.

Di sản là những giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác để tiếp tục sống trong hiện tại và tương lai. (Ảnh: PV)

Để người trẻ thực sự trở thành lực lượng giữ hồn di sản trong kỷ nguyên số

Để khát vọng bảo tồn và phát huy di sản của thế hệ trẻ không chỉ dừng lại ở những phong trào mang tính thời điểm, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ từ Nhà nước, nhà trường, cộng đồng và chính bản thân người trẻ.

Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ giáo dục di sản trong nhà trường.Giáo dục văn hóa, lịch sử và di sản cần được chuyển từ cách truyền đạt nặng lý thuyết sang trải nghiệm thực tế. Học sinh, sinh viên nên được tham gia các chuyến điền dã tại di tích, bảo tàng, làng nghề; được học qua dự án, qua sáng tạo nội dung số, qua phục dựng và trình diễn văn hóa truyền thống. Khi di sản được tiếp cận bằng cảm xúc và trải nghiệm, người trẻ sẽ thấy đó là một phần của đời sống mình chứ không phải những kiến thức xa vời trong sách giáo khoa.

Thứ hai, tạo môi trường để người trẻ sáng tạo từ di sản. Nhà nước và các địa phương cần có cơ chế hỗ trợ các dự án khởi nghiệp văn hóa, dự án số hóa di sản, sáng tạo nội dung lịch sử - văn hóa trên nền tảng số. Các quỹ hỗ trợ sáng tạo trẻ, cuộc thi thiết kế, phim ngắn, podcast, game, ứng dụng du lịch số về di sản cần được tổ chức thường xuyên. Di sản chỉ thực sự sống khi nó trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo đương đại, đúng như tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh việc “khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa số”.

Thứ ba, đẩy nhanh chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản.Các cơ quan văn hóa cần phối hợp với doanh nghiệp công nghệ và lực lượng thanh niên để số hóa hiện vật, tư liệu, lễ hội, làn điệu dân gian, kiến trúc cổ… bằng công nghệ 3D, thực tế ảo, dữ liệu mở. Việc xây dựng các nền tảng trực tuyến về di sản sẽ giúp người trẻ tiếp cận văn hóa dân tộc mọi lúc, mọi nơi và tạo điều kiện để họ tham gia bảo tồn bằng chính kỹ năng công nghệ của mình.

Thứ tư, phát triển kinh tế di sản gắn với sinh kế của người trẻ. Nhiều bạn trẻ muốn gắn bó với làng nghề, nghệ thuật truyền thống nhưng gặp khó khăn về đầu ra sản phẩm và cơ hội nghề nghiệp. Vì vậy, cần phát triển du lịch văn hóa, thương mại điện tử cho sản phẩm thủ công, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành nghề truyền thống. Khi di sản tạo ra giá trị kinh tế bền vững, người trẻ mới có động lực lâu dài để theo đuổi và gìn giữ nghề tổ tiên.

Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái truyền thông về văn hóa Việt Nam.Các cơ quan báo chí, nền tảng số, tổ chức đoàn - hội cần lan tỏa nhiều hơn những câu chuyện đẹp về người trẻ gìn giữ di sản: từ nghệ nhân trẻ, nhà sáng tạo nội dung lịch sử, nghệ sĩ đưa dân gian vào âm nhạc đến những bạn trẻ khởi nghiệp từ làng nghề. Những hình mẫu tích cực sẽ truyền cảm hứng và tạo thành phong trào xã hội rộng lớn, thay vì để không gian mạng bị lấn át bởi các nội dung giải trí ngắn hạn, thiếu chiều sâu văn hóa.

Thứ sáu, bản thân người trẻ cần chủ động học hỏi và hành động.Di sản không thể được giữ gìn nếu chỉ chờ vào chính sách. Mỗi bạn trẻ có thể bắt đầu từ những việc nhỏ: tìm hiểu lịch sử quê hương, tham gia các hoạt động bảo tồn cộng đồng, ưu tiên sử dụng sản phẩm văn hóa Việt, lan tỏa thông tin đúng đắn về di sản trên mạng xã hội, hoặc đơn giản là giữ gìn tiếng Việt, phong tục, nếp sống đẹp trong gia đình và cộng đồng.

Kỷ nguyên số không làm di sản mai một nếu con người biết biến công nghệ thành công cụ gìn giữ và lan tỏa văn hóa. Ngược lại, đây có thể là thời cơ lớn để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới bằng sức sáng tạo của thế hệ trẻ. Khi được trao cơ hội, được khơi dậy niềm tự hào dân tộc và được hỗ trợ bằng những chính sách phù hợp, người trẻ sẽ không chỉ là người thừa hưởng quá khứ, mà còn là những người kiến tạo tương lai cho di sản Việt Nam.

Trần Đức Anh - Th.s Nguyễn Đạt Tân

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/nguoi-tre-voi-su-menh-giu-hon-di-san-trong-ky-nguyen-so.html