Nguồn càng sâu dòng càng dài
NSGN - Thiền phái Liễu Quán do một vị Tổ sư người Việt Nam tu hành ngộ đạo khai sáng trong khoảng đầu thế kỷ XVIII.
Xưa nay, Thiền pháp nào được bậc Tổ đức quyết chí hạ thủ công phu, chứng ngộ, tiếp tục miên mật hàm dưỡng rồi sáng lập nên thì dòng Thiền ấy được lưu truyền rộng khắp, lâu dài, không đoạn mất. Tổ Liễu Quán là một thiền sư như vậy. Ngài đã khổ công tham tầm, cầu học, khổ hạnh quyết chí ra sức dụng công, quên cả thân tâm, không biết mệt mỏi, chỉ mong được sáng đạo. Tổ thường tự nghĩ: “Nếu có pháp nào vi diệu tối thượng bậc nhất, ta nguyện quyết xả thân mạng, y vào pháp đó tu hành” (Hà pháp tối vi đệ nhất, ngã quyết xả thân mạng, y pháp tu hành)(1). Phật pháp không cô phụ người quyết tâm, ngài đã ngộ đạo, bảo nhậm, được xác chứng, xuất kệ sáng lập nên Thiền phái Liễu Quán. Thiền phái này nhờ vậy mà được truyền bá rộng rãi khắp các tỉnh thành trong nước, lan ra cả nước ngoài.
Quyết chí tu hành, ngộ tâm, khổ hạnh bảo nhậm, chính trí đức này khiến cho Thiền pháp được truyền bá rộng rãi, lâu bền. Đây là chân lý, là sự thật, là điểm độc đáo của đạo Phật. Có tu ắt có chứng, có chứng mới làm nên đại pháp. Không bất kỳ một bậc cao nhân nào bên ngoài có thể làm thay cho người khác được.
1. Tham học, sáng đạo
Nghe danh Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung, năm 1702, Sư đến Long Sơn yết kiến. Thiền sư Tử Dung dạy Sư để tâm tham cứu câu: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào?). Trải qua bảy, tám năm tham cứu, vẫn chưa lĩnh hội, trong lòng tự lấy làm hổ thẹn. Một hôm, nhân đọc sách Truyền đăng lục đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ” (Chỉ vật truyền tâm, người không chỗ nhận), thoạt nhiên Sư tỏ ngộ được yếu chỉ của Thiền. Như vậy, Tổ sư Liễu Quán đã ngộ điều gì?
Chỉ vật truyền tâm, là khéo ngay khi thiền sư chỉ vào sự vật, hành giả khéo nhận lại chân tâm, ngộ tâm. Ngộ tâm thì tâm học trò tự khế với tâm vị thầy, đồng thời khế với tâm thể Phật Tổ, nên gọi là truyền tâm.
Người không chỗ nhận, nghĩa là ngay đó hành giả khéo nhận lại tâm mình. Thẳng tắt, vụt nhanh, không có chỗ cho tình thức xen vào nhận hiểu một điều gì đó. Tức là đối với “việc ấy”, ngộ thì liền ngộ, không ngộ thì trôi qua nhanh. Không có chỗ cho người nhận, cũng như không thể nhận lấy bất kỳ một chỗ nào khác hay cái gì bên ngoài, kể cả tướng của tự tâm.
Ví như Tăng hỏi Thiền sư Đa Phước: “Thế nào là một vườn tre của Đa Phước?”. Thiền sư Đa Phước đáp: “Một cây hai cây nghiêng”. Tăng thưa: “Chẳng hiểu”. Thiền sư Đa Phước nói: “Ba cây bốn cây cong”(2).
Chư vị Tổ đức chứng ngộ, tâm cảnh nhất như. Vườn tre Đa Phước hay Thiền sư Đa Phước là chủ trong cảnh (vườn tre), cũng không ngoài một tâm đang sáng biết rỡ ràng, như thị, vượt thoát căn cảnh, sở năng. Vì vậy, hỏi cảnh tức hỏi người, hỏi tâm. Đề cập đến cảnh và người, đối với thiền sư, tất cả đều là một tâm đang hiển hiện, ngay đây. Do đó, Thiền sư Đa Phước đáp: “Một cây hai cây nghiêng”.
Chúng sinh mê tâm nên thấy biết phan duyên theo vật. Ngay khi chỉ vào bụi tre mà nhìn theo bụi tre thì quả thật là đang mê, không sáng tánh mình. Thiền sư chỉ bụi tre, nhưng học nhân phải khéo nhận lại bản tâm đang sáng biết, không phải “biết về, biết theo” bụi tre, không phải nhằm trên bụi tre để nhận lấy hay sinh hiểu điều gì trên đó, thì mới ngộ tâm. Tại sao các thiền sư không nói thẳng là ông phải nhận lại tâm mình? Bởi như thế, hành giả sẽ sinh hiểu, có chỗ nhận tâm như thế nào đó. Nếu vậy, tâm đã có tướng mạo, chưa phải là bản nguyên không một vật của chính nó. Phải đánh động bên ngoài, học nhân khéo hội, sẽ tự sáng ra tâm mình trùm khắp, rạng ngời, chưa từng thiếu vắng bao giờ. Muốn hành giả ngộ tâm, các thiền sư bắt buộc phải có diệu thuật, không thể nói trắng ra.
Ngộ là trả lại tự tánh bản nguyên. Tánh này hiện tiền, hành giả hay ra rất rõ ràng, không phải nhận ra hay hiểu về một cái tâm như thế nào đó. Việc này rất dễ, bởi chỉ là sáng lại tâm tánh đã sẵn nơi chính mình. Nhưng cũng vô vàn khó khăn, bởi không thể dùng cách nào để nói cho hiểu được. Do đó, các thiền sư chỉ khéo dùng cơ dụng đẩy vào, chỉ vật nhưng học nhân phải khéo xoay lại nhận tâm. Do đó nói: “Chỉ vật truyền tâm, người không chỗ nhận”. Tổ sư Liễu Quán trải qua 6, 7 năm quyết chí dụng công, tâm đã được đưa về một mối, chạm đến câu này như được đánh động, gõ vào, bất chợt sáng ra, vỡ toang, tâm thể hiển hiện.
Thế thì lúc đã ngộ, đối với câu Thiền sư Tử Dung dạy tham cứu: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào?),Tổ có hay ra không?
Muôn pháp về một, tức là khi buông hết thân tâm và các pháp, ngưng tụ, tựu trung lại chỉ còn một bản tâm vô tướng, không mê, cái ấy là một.
Một về chỗ nào? Như vậy, lúc này, tâm về đâu?
Một là đối với số nhiều mà nói. Khi các số khác đã không thì một cũng không còn. Đây là lý thuyết. Thực chất đến điền địa này, hành giả phải bặt luôn sở tri là thấy có một chân tâm như thế nào đó (cái được gọi là một trong giai thoại trên) thì tâm tự bàng bạc, trùm khắp, thấy biết vượt thoát căn cảnh, không còn nằm trong một để so sánh với muôn vàn sai khác. Tuy nhiên, không phải chấp không, cứng đờ mà vẫn thấy tâm và cảnh rành rẽ rõ ràng, linh thông đến chủ động, nhưng vẫn không động và không ngăn ngại lẫn nhau.
“Chỉ vật truyền tâm, người không chỗ nhận”. Nếu không nhận trên vật, không có tướng của tự tâm mà khéo thầm khế hợp tâm tánh vô tướng nhưng sáng ngời, liền rõ diệu chỉ Phật Tổ: “Chỉ vật cốt để ngộ tâm, truyền tâm”. Đã ngộ bản tâm, liền thấu suốt: “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” mà Thiền sư Tử Dung đã khai thị. Tâm không nằm vào bất cứ một chỗ nào, cũng chẳng phải tại tất cả chỗ, mà tâm là thể không hình tướng, bặt dấu vết, thênh thang, trùm khắp, không một vết mê. Ngay một lời khai thị mà ngộ tâm thì hành giả sẽ tự suốt thông tất cả các lời khai thị khác. Do vậy, khi đọc Truyền đăng lục, đến lời khai thị trên được ngộ thì Tổ sư Liễu Quán sẽ thông thống tất cả các công án còn lại của chư vị Tiên giác.
2. Kiểm chứng
Sau khi ngộ tâm, do khoảng cách địa lý cách trở cho nên phải đến mùa xuân năm Mậu Tý (1708), lúc này Tổ Liễu Quán đã 42 tuổi, mới trở ra lại Long Sơn (chùa Ấn Tôn) gặp Thiền sư Tử Dung ấn chứng. Sư đem chỗ thấy biết của mình trình bạch, đến câu “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, Thiền sư Tử Dung bảo:
Huyền nhai tán thủ,
Tự khẳng thừa đương,
Tuyệt hậu tái tô,
Khi quân bất đắc.
Nghĩa:
Vực thẳm buông tay,
Tự khẳng đảm đang
Chết rồi sống lại,
Dối anh chẳng được.
Là thế nào, nói xem!
Sư vỗ tay cười to ha hả.
Sự thực, khi chưa ngộ tâm, căn thức mê tự bám chấp ngũ uẩn và nương tựa dính mắc các trần. Nó luôn lấy sự dính mắc nương tựa như vậy làm mạng sống. Hành giả công phu đắc lực, thình lình thân tâm rơi rụng, tất cả sạch sành sanh thì thường bị chơi vơi sợ hãi, bởi lúc này thức không còn chỗ bám. Mới biết trước đó căn thức thầm bám chấp năm ấm làm tự ngã cho nên khi năm ấm lặng trong, mất hút thì chúng ta hốt hoảng, chơi vơi. Khi thân, tâm sanh diệt và tất cả cảnh duyên đồng thời buông sạch (như vực thẳm buông tay), vòi vọi riêng còn tâm thể rỗng rang thì căn thức tự dứt bặt, các thiền sư ví dụ một bước chuyển thân này như người chết đi sống lại. Tất cả hoát toang, thân tâm mất sạch, đất trời thênh thang đặc biệt vô cùng. Lúc này, các thiền sư không thể đánh đố dối gạt gài bẫy bằng công án được nữa. Như Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ - Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam hiện nay đã nói: “Mỗi người tự cởi sạch những thiên chấp của mình để thấy được đại cơ đại dụng của thiền sư, đừng bị đầu lưỡi các ngài lừa”(3).
Nghe vậy, Tổ Liễu Quán chỉ vỗ tay cười to ha hả. Bởi ngài đang ở trong thể toàn bày sẵn ra đó. Nội dung bài kệ chính là cảnh giới đang hiển hiện nơi ngài. Tổ đã tự sáng, tự rõ như chúng ta đang thấy tất cả đồ vật trước mắt, tự mình khẳng định điều đó như người trong cuộc chứ không phải quan niệm, hiểu biết hoặc chứng minh giải thích gì cho người khác hiểu; gọi là “tự khẳng”. Ngộ bản tâm này, tức đã gánh vác được việc lớn của Phật Tổ; nên nói“thừa đương”. Nhưng Thiền sư Tử Dung vẫn gạn lại: “Chưa phải”. Tổ nói: “Bình thùy nguyên thị thiết” (Trái cân vốn là sắt). Tất cả chỉ là cái đã sẵn như vậy, tâm tánh ấy đã sẵn vậy lâu rồi, chúng sinh ai cũng có, chỉ là chưa khéo nhận lại. Hôm nay ngộ ra, cũng chỉ ngộ lại việc đã sẵn, trái cân là sắt, vậy thôi. Chỗ này cần thể ngộ, hiểu không thể đến, dùng hiểu không có khí lực. Ngài Tử Dung cẩn thận gạn tiếp: “Cũng chưa phải”. Sư liền thôi.
Sáng hôm sau, Thiền sư Tử Dung thấy Sư đi ngang, liền gọi lại bảo: “Chuyện hôm qua chưa xong, nói lại xem!”.
Sư thưa:
Tảo tri đăng thị hỏa
Thực thục dĩ đa thì!
(Sớm biết đèn là lửa
Cơm chín đã lâu rồi!).
Nếu sớm biết đèn là lửa thì cơm chín đã lâu rồi. Tức là nếu sớm hay ra tâm tánh ấy vốn tự tịnh tự định, tuệ tự sáng biết, tất cả tự sẵn như vậy nơi chính mình thì không cần phải khổ công tu hành theo kiểu tạo tác nhọc nhằn như trước. Chỉ là khéo thầm nhận, liền xong.
Bấy giờ, Thiền sư Tử Dung mới khen ngợi.
Thực ra, ngộ thì có ngộ, nhưng đến đây chưa phải triệt ngộ rốt ráo đạt đến thể dụng đồng thời, sự lý viên dung, tất cả đều mất hút, trở lại bình thường như cũ, không một vết mê, cho nên Thiền sư Tử Dung chỉ khen ngợi chứ chưa ấn chứng.
3. Bảo nhậm, ngộ sâu thiền tủy, được ấn chứng
Sau đó, Sư vào rừng thông ở núi Thiên Thai lập am tranh (hiện nay là vị trí tháp Tổ, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế) để tiếp tục sống thẳng tự tánh, bảo nhậm, tiến sâu hơn. Vì thời gian này rừng còn hoang vu, có nhiều cọp cho nên Sư gác các cây nhỏ trên nhánh ba của cội cây lớn làm tòa ngồi, người lúc bấy giờ gọi là ở tổ. Bên dưới có hồ cạn và khe nước chảy qua (nay là ao nước phía trước bảo tháp của ngài). Bên khe cạn có mọc loại rau (rong) “sột soạt”(4). Đến bữa, Sư hái rau và ăn với muối mè.
Mùa hạ năm Nhâm Thìn (1712), Thiền sư Tử Dung vào Quảng Nam dự lễ “Toàn viện”(5). Nhân đó, Sư đem trình bài kệ “Dục Phật” (Tắm Phật), Thiền sư Tử Dung hỏi: “Tổ Tổ trao truyền, Phật Phật truyền nhau; chưa biết truyền trao nhau vật gì?”.
Sư đáp:
Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng
Quy mao phủ phất trọng tam cân.
(Búp măng trên đá dài một trượng
Cây chổi lông rùa nặng ba cân).
Trên đá mọc măng (không có chuyện đó), cây chổi lông rùa nặng ba cân (không có chổi lông rùa). Vô lý, không cho tình thức chen vào hiểu được. Không thèm hiểu (như đá, lông rùa), nhưng tánh mình vẫn đang sáng rỡ, lặng trong. Ngay đó nhận lại, sẽ hay ra tâm này không động mà ứng cơ lưu xuất diệu dụng bất khả tư nghì (như măng mọc trên đá, tợ chổi lông rùa). Trong chỗ vắng bặt, nhưng linh thông đến chủ động, vẫn bất động. Không còn dừng trong tánh bình đẳng như lúc trước Tổ trình Thiền sư Tử Dung, mà đã có cơ dụng sống động, nhanh như đá nháng điện chớp. Như vậy, trong thời gian bảo nhậm công phu (4, 5 năm), Tổ đã tiến sâu thiền tủy. Nhưng Thiền sư Tử Dung vẫn kỹ lưỡng gạn lại xem Sư đã thấu triệt hay chưa, ngài nêu:
Cao cao sơn thượng hành thuyền
Thâm thâm hải để tẩu mã.
(Chèo thuyền trên núi cao
Phi ngựa dưới đáy bể).
Lại là thế nào?
Sư đáp:
Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống
Một huyền cầm tử tận nhật đàn.
(Trâu đất gãy sừng rống suốt đêm
Đàn tranh đứt dây gảy trọn ngày).
Thấy sư đối đáp lanh lẹ, lâm cơ ứng biến khế hợp, thiền sư Tử Dung rất vui và ấn chứng.
Thông thường, các thiền sư ngộ đạo phải trải qua nhiều lần mới thấu triệt. Khi mới chánh ngộ, còn trong điền địa thể tánh bình đẳng thì chỉ là một thể lặng trong, diệu dụng chưa phát huy đúng mức. Một điều căn bản dễ nhận ra là hành giả lúc này thường hay thuật lại tự tánh lặng trong ấy. Một khi đã thấu triệt, bặt hết dấu vết, hành giả trở lại dung dị bình thường như cũ, nhưng không một vết mê. Chỉ là tùy thời, tùy cơ khai thị, đưa người học trở về “trong ấy” chứ không thuật lại chỗ sống của mình.
Lần gặp đầu là hiện bày cái sẵn vậy; lúc yết kiến sau thì hiển được diệu dụng bất khả tư nghì, Tổ sư Liễu Quán không còn tả về tự tánh đang hiển hiện như lần gặp Thiền sư Tử Dung trước đây 4, 5 năm nữa. Là tâm, là tánh, tất cả đều mất hút, có cơ sống đặc biệt, khai thị, đẩy học nhân vào tự tánh chính họ. Đến đây, cơ dụng đã toàn bày, không còn giới hạn trong động và tịnh, tâm và cảnh, thể và dụng, mà quẫy sóng, dấy mòi cũng chính là y. Như vậy, Thiền sư Tử Dung mới nhận thấy đã thấu triệt và ấn chứng.
Cho thấy, Tổ sư Liễu Quán là một vị thiền sư quyết chí mãnh liệt trong công phu tu hành, quên cả thân mạng, quyết tâm phải sáng đạo chứ không còn việc gì khác quan trọng hơn. Thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm ngài bừng ngộ. Sau đó chuyên tâm bảo nhậm, khổ hạnh huân tu, ngộ sâu Thiền tủy, mới được Thiền sư Tử Dung ấn chứng. Như vậy, ngài Liễu Quán là vị Tổ sư được Thiền sư Tử Dung kiểm chứng, xác quyết và ấn chứng chứ không phải danh nghĩa, hay được người sau tôn lên. Chính chỗ triệt ngộ, khổ hạnh thực tu cho nên Thiền pháp của ngài được nối mạch lâu dài, con cháu về sau được thừa tư ân đức của Tổ.
4. Minh định
Cuối thu năm 1742, lúc này đang trú tại chùa Viên Thông, Sư có chút bệnh, nhưng nghi dung vẫn bình thường, không thấy biểu hiện bệnh gì. Đến khoảng tháng 10, Sư gọi đệ tử đến bảo: “Nhân duyên cuộc đời đã hết. Ta sắp về quê thôi!”. Mọi người khóc, Sư bảo: “Các người buồn khóc điều gì vậy? Chư Phật xuất thế còn nhập Niết-bàn. Ta nay đến đi đã rõ, về đã có nơi. Các người không nên buồn khóc”(6).
Như vậy, mãn duyên trần thế thì ngài về lại quê hương muôn thuở chính mình (tự tánh). Dù có hiện tướng đến đi cũng rạng ngời sáng suốt, trở về đã có nơi, rành rành như thế, tại sao lại buồn khóc. Có lẽ buồn khóc cho chính chúng ta đang còn mờ mịt thì đúng hơn là khóc cho Tổ.
Tháng 11 âm lịch (1742), vài ngày trước khi tịch, Sư ngồi ngay ngắn tự cầm bút viết kệ từ biệt:
Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc diệc dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà tất bôn man vấn Tổ tông.
(Tuổi đời đã quá bảy mươi niên,
Không không sắc sắc thảy dung thông.
Hôm nay mãn nguyện về quê cũ,
Hà tất lăng xăng hỏi Tổ tông).
Ngài nói, hơn 70 năm ở trong đời, sắc - không dung thông, tất cả hành hoạt chỉ là một sự hiển hiện trong tự tánh chánh định hiện tiền, không còn khởi phân biệt không cùng sắc. Hôm nay, nguyện mãn duyên tròn, ngài trở lại quê hương muôn thuở chính mình, tức bản tánh đã ngộ. Cái “chính mình chân thật” hiện nay đây đang hiển hiện, rỡ ràng. Quá khứ chư Phật, liệt vị Tổ sư; hiện tại những vị tu hành chứng ngộ; cho mãi đến vị lai, hễ ai tu hành chứng đạo, đều về trong ấy không khác. Tổ sư Liễu Quán đã suốt thông rõ ràng như vậy, cho nên ngài nói: “Việc gì phải lăng xăng đi tìm hỏi Tổ tông”. Thực tế việc này không thể đi tìm bên ngoài hay ở đâu đó, mà phải là khéo nhận lại nơi mình. Với ngài, cả đời sống đạo cho đến thời khắc này, vẫn vẹn nguyên, đang hiện tiền, không mất.
Viết kệ xong, Sư nói: “Tuy nhiên như vậy, rốt sau lão tăng biết nói gì đây? Vòi vọi, sừng sững, xán lạn rực rỡ. Xưa kia từ ‘cái ấy’ mà đến, ngày nay cũng từ ‘cái ấy’ mà đi. Muốn hỏi việc đi đến thế nào? Trời xanh trong lặng trăng thu sáng, đại thiên thế giới lộ toàn thân. Sau khi ta đi, các ngươi phải nhớ: Vô thường mau chóng, phải siêng năng tu học Bát-nhã. Chớ quên lời ta. Mỗi người hãy nên cố gắng!”(7).
Đây là Tổ đã phơi bày hết chỗ sống một đời để chỉ cho con cháu. Nếu đã trực ngộ thì tự mình hay ra, tánh này vòi vọi, cao vút, sừng sững, rờ rỡ, vượt thoát căn trần, vốn tự như vậy. Dù cho thân này xưa đến nay đi, nhưng cũng chỉ là “cái ấy”, tánh ấy, không khác. Tuy có hiện tướng sanh tử đến đi, nhưng vẫn lặng trong, siêu vượt, chẳng chút mảy may chạm đến tánh kia cho nên không có đi đến bao giờ. Muốn biết việc đến đi thế nào, thì chỉ thấy tất cả các cảnh ngày đêm đang diễn bày diệu pháp, tất cả hiện thành. Chỉ là khéo nhận, liền tự sáng ra: “Nào có đến đi gì!”. Nếu chưa thể đạt được như thế, phải thể nhập bằng con đường tu tập Bát-nhã. Khéo tu tập Bát-nhã thì ngã và pháp đều quên, mới hay ngay đó nhảy thẳng vào thật tướng Bát-nhã, tánh mình hiển hiện. Đây là con đường siêu việt mà các bậc Thánh trước đều chỉ bày, đều đã đi qua. Hôm nay Tổ chỉ dạy rất thật, rất gần và rất thống thiết, vì việc sinh tử của mọi người. Đây mới là thật sự vì nhau.
Đến ngày 22, sau lễ trà thoại sáng sớm, Sư hỏi: “Bây giờ là giờ gì?”. Đệ tử đáp: “Giờ Mùi”. Sư an nhiên ra đi. Việc tâu lên, chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc lập bia và ban thụy hiệu “Chính Giác - Viên Ngộ Hòa thượng”. Tổ sư đã ra đi tự tại, đúng như sức sống một đời hạ thủ của ngài.
Bậc đã đạt ngộ sẽ tự biết đường đi, tự tại trong sinh tử, tử sinh không chạm đến được. Đây là một sự minh định không còn gì nghi ngờ về đạo pháp, sở chứng của các bậc Tiên giác. Con cháu đời sau đã thừa hưởng được phúc lớn, thắng duyên khi có được một bậc Tổ sư như vậy.
5. Truyền trì rộng rãi, dài lâu
Nguồn sâu chính là việc khổ tu, ngộ đạo, bảo nhậm, khiêm đức… Tất cả công đức từ việc uẩn tố huân tu có kết quả của Tổ sư Liễu Quán. Đây là điều kiện đủ, không thể thiếu để pháp mạch được lưu bố dài lâu. Tuy nhiên để cội nguồn công đức này được phát tiết, hoằng truyền thì còn thêm một điều kiện cần; đó là nhiều đời đã giáo dưỡng nên có nhân duyên với nhiều đệ tử hiền tài, ra sức thực hành hạnh nguyện giáo hóa lợi tha, có thời trí để uyển chuyển vận dụng tài tình, đưa Phật pháp vào đời làm lợi ích rộng lớn. Tổ sư Liễu Quán cũng đã không quản ngại khó khăn để thực hành hạnh lợi sinh như thế.
Từ công đức tu hành và hạnh giáo hóa lợi sinh của Tổ sư mà Thiền phái Liễu Quán được hoằng truyền sâu rộng. Đến nay, Thiền phái Liễu Quán không những có mặt khắp các tỉnh thành trong cả nước mà còn lan tỏa ra một số nước trên thế giới. Hiện tại, pháp mạch truyền thừa của Thiền phái Liễu Quán vẫn còn kế tục, quang huy.
Từ diệu dụng và thời trí, Tổ sư đã nhận biết phong tục tập quán, tâm tư nguyện vọng của người Việt Nam nên đã vận dụng uyển chuyển giáo hóa cho phù hợp, mang lại kết quả như nguyện. Đồng thời, còn thích ứng với bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Song song với công đức tu hành, sáng đạo, Tổ đã giáo hóa, xuất kệ, khai sáng Thiền phái Liễu Quán trên những đặc điểm nổi bật như thế cho nên pháp mạch được truyền trì. Cho thấy, nguồn đạo tu hành của Tổ sư Liễu Quán càng sâu thì Thiền phái do ngài khai sáng càng được lưu truyền rộng khắp, dài lâu.
6. Kết luận
Tổ sư Liễu Quán ở tổ trên nhánh cây, ăn rong “sột soạt” mà thiền cơ dĩnh ngộ(8), lập nên Thiền pháp, đời đời nối thạnh, không đoạn dứt. Ngài là một thiền sư, một bậc Tổ sư mẫu mực trong rừng thiền về hạnh quyết tu, chứng ngộ. Muốn học đạo của Tổ, thực tế hơn hết là quay lại lịch sử để suy nghiệm, xét xem, Tổ sư đã tu pháp gì, hành pháp nào mà được thành tựu? Tất cả những gì ngài trải qua trong quá trình tham tầm, đều không khế hợp nên không kể vào. Do vậy, sử cũng không ghi lại ngài đã tu các pháp gì lúc ấy. Còn lại, không thấy hành trạng chép thêm gì ngoài chỗ thâm ngộ nơi Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung. Đồng thời Thiền sư Tử Dung cũng không trao pháp gì ngoài một câu khai thị, chỉ điểm thẳng đến bản tâm chân thật rốt ráo nơi chính mỗi người. Cuối cùng, ngài đọc Truyền đăng lục mà được ngộ nhập. Hành giả tỏ ngộ tâm này liền tự hay ra đồng với tâm thể Phật Tổ. Sau khi ngộ đạo, ngài cũng miên mật khổ hạnh bảo nhậm không chút lơi lỏng, mới có ngày triệt ngộ, được Thiền sư Tử Dung ấn chứng. Lúc sắp lâm chung, Tổ sư đem hết tâm can chỉ thẳng: Việc tu hành cốt yếu phải ngộ tánh. Hoặc là ngay đây liền nhận. Nếu chưa như thế thì nên tu tập Bát-nhã, rồi cũng sẽ ngộ tự tánh. Đây là lời dạy sau cùng, thống thiết và rốt ráo, đi thẳng vào trọng tâm của việc tu tập. Có công phu, sẽ hay ra sự thật là như vậy. Ngài đã nói thật lòng mình bằng kinh nghiệm cả một đời hạ thủ và sở chứng trong công phu. Và phải thực sự tu tập như vậy mới có diệu lực, cho chúng ta làm chủ sinh tử.
Phút cuối Tổ sư ra đi tự tại, biết rõ nơi đến là tự tánh Niết-bàn vô sinh. Đây là một sự minh định. Chúng ta đã đầy đủ phước duyên có được một bậc Tổ sư như thế. Noi theo đạo phong và gương hạnh của ngài, phát tâm tu hành quyết tử, quyết sáng đại sự. Theo thời gian, công phu thuần thục, đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm tánh bừng sáng, liền đó thừa kế gia bảo vô giá Tổ sư để lại một cách viên mãn và trọn vẹn. Sẽ hay ra: Tổ ấn vẫn còn, chưa từng thiếu vắng. Mới thấy được: Nguồn càng sâu thì dòng càng dài.
------------
(1)“Bia minh tháp Tổ sư Liễu Quán”, bản chữ Hán. Nhiều tác giả (2014), Tạp chí Liễu Quán, số 1, NXB.Thuận Hóa, Huế, tr.35.
(2)HT. Thích Thanh Từ (2019), Thanh Từ toàn tập, tập 34, Thiền sư Trung Hoa giảng giải, Sđd, tr.70.
(3)HT. Thích Thanh Từ (2018), Thanh Từ toàn tập, tập 30, Thiền sư Trung Hoa giảng giải, Sđd, tr.464.
(4)Theo lời kể lại của Hòa thượng Thích Chơn Hương, trụ trì chùa Quảng Tế, Huế. Đây là một loại rong mọc lên như một chùm xòe ra, khi ăn nghe tiếng sột soạt nên người địa phương xưa đặt tên là rong sột soạt. Loại này mọc cạnh khe suối, bên dưới chảng ba cây ngài tọa thiền.
(5)Sách tấn An cư toàn viện.
(6)Dịch từ “Bia minh tháp Tổ sư Liễu Quán”, bản chữ Hán. Nhiều tác giả (2014), Tạp chí Liễu Quán, số 1, Sđd, tr.35.
(7)Dịch từ “Bia minh tháp Tổ sư Liễu Quán”, bản chữ Hán. Nhiều tác giả (2014), Tạp chí Liễu Quán, số 1, Sđd, tr.35.
(8)Triệt ngộ, siêu việt, cơ phong cao vút, thức tình không đến kịp.
(NSGN - 359)
Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/nguon-cang-sau-dong-cang-dai-post78932.html











