5 ưu tiên để du lịch Việt Nam vững vàng trước một thế giới nhiều biến động

Du lịch toàn cầu đã đi qua giai đoạn phục hồi sau đại dịch, nhưng phía trước là một môi trường nhiều bất định hơn với xung đột địa chính trị, biến động kinh tế, sức ép khí hậu, chi phí gia tăng và thiếu hụt nhân lực.

Báo cáo Chỉ số Năng lực phát triển du lịch 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đặt ra 5 ưu tiên cho ngành Du lịch, tương đồng với định hướng phát triển của Việt Nam

Báo cáo Chỉ số Năng lực phát triển du lịch 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đặt ra 5 ưu tiên cho ngành Du lịch, tương đồng với định hướng phát triển của Việt Nam

Báo cáo Chỉ số Năng lực phát triển du lịch 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đặt ra 5 ưu tiên cho ngành Du lịch: Đa dạng hóa nhu cầu, bảo đảm khả năng tiếp cận và vận hành liên tục, cạnh tranh bằng giá trị, bảo đảm lợi ích cho cộng đồng và củng cố nguồn nhân lực.

Với Việt Nam, những khuyến nghị này có sự tương đồng rõ nét với định hướng phát triển du lịch chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo và giàu bản sắc được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 22.8.2026.

Du lịch thế giới đang đứng trước một nghịch lý. Nhu cầu tăng mạnh, lượng khách quốc tế và chi tiêu du lịch đã vượt các mốc trước đại dịch, nhưng nền tảng để duy trì tăng trưởng lại chịu sức ép ngày càng lớn.

Theo WEF, năm 2025 thế giới đón khoảng 1,5 tỉ lượt khách quốc tế; tổng đóng góp của du lịch và lữ hành vào kinh tế toàn cầu đạt 11,6 nghìn tỉ USD, hỗ trợ khoảng 366 triệu việc làm.

Trong giai đoạn 2024 - 2026, có tới 92% trong 110 nền kinh tế được WEF đánh giá cải thiện điểm số TTDI. Tuy nhiên, giá du lịch gia tăng, đầu tư chưa theo kịp nhu cầu, thiếu hụt nhân lực và những áp lực đối với cộng đồng, môi trường đang tạo ra những giới hạn mới.

Vì vậy, WEF cho rằng bài toán của du lịch hiện nay đã thay đổi, cần tập trung vào quản lý tăng trưởng để tạo ra giá trị lâu dài và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động.

Với Việt Nam, đây là thời điểm thích hợp để nhìn lại cách thức tăng trưởng của ngành. Nghị quyết 26-NQ/TW xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới; đồng thời đặt yêu cầu chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo, nâng cao chất lượng trải nghiệm và giá trị gia tăng.

Đa dạng hóa thị trường là một trong những giải pháp quan trọng giúp điểm đến giảm thiểu tác động từ các cú sốc kinh tế

Đa dạng hóa thị trường là một trong những giải pháp quan trọng giúp điểm đến giảm thiểu tác động từ các cú sốc kinh tế

Đa dạng hóa thị trường để giảm sức ép từ những cú sốc bên ngoài

Một trong những bài học rõ nhất từ những năm gần đây là phụ thuộc quá lớn vào một thị trường khách có thể trở thành rủi ro lớn khi thế giới biến động.

WEF khuyến nghị các điểm đến phân tán nguồn cầu giữa thị trường nội địa, khu vực và quốc tế; cân bằng khách đường ngắn với đường dài, mở rộng các phân khúc nghỉ dưỡng, công vụ, hội họp, sự kiện và phát triển sản phẩm có sức hút quanh năm.

Một thị trường đa dạng giúp điểm đến ít bị tổn thương khi một thị trường suy giảm, đường bay gián đoạn hoặc hành vi tiêu dùng thay đổi.    

Kinh nghiệm Nhật Bản được WEF đưa ra khá đáng suy nghĩ. Năm 2025, Nhật Bản đón 42,7 triệu lượt khách quốc tế, song tỉ trọng khách từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Hong Kong (Trung Quốc) giảm từ 70% năm 2019 xuống 65%.

Trong khi đó tỉ trọng khách từ Mỹ, châu Âu, Australia và Trung Đông tăng từ 14% lên 18%. Cùng lúc, số đêm lưu trú của khách quốc tế tại các khu vực ngoài những đô thị lớn tăng 14,1% trong tháng 10.2025.    

Việt Nam đã có một cấu trúc thị trường quốc tế tương đối đa dạng, song dư địa phân tán rủi ro vẫn còn lớn. Thị trường Đông Bắc Á tiếp tục giữ vai trò quan trọng, trong khi Ấn Độ, Australia, châu Âu, Trung Đông và các thị trường xa đang mở ra dư địa mới.

Cùng với đó, thị trường nội địa cần tiếp tục được xem như nền tảng giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động trong những thời điểm dòng khách quốc tế biến động.

Nghị quyết 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đón 45 - 50 triệu khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và tập trung vào nhóm khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

Nghị quyết đồng thời yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu thị trường, phân tích, dự báo xu hướng tiêu dùng và phát triển sản phẩm phù hợp với từng thị trường.   

Mở đường bay quốc tế mới là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm khả năng tiếp cận điểm đến

Mở đường bay quốc tế mới là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm khả năng tiếp cận điểm đến

Khả năng tiếp cận phải được hiểu rộng hơn mở đường bay mới

Báo cáo của WEF nêu rõ là có đường bay chưa đủ để bảo đảm khả năng tiếp cận điểm đến.

Điểm số trung bình về hạ tầng hàng không của 20 nền kinh tế đứng đầu TTDI cao hơn trên 50% so với phần còn lại. Nhưng WEF đồng thời nhấn mạnh tới thị thực, quản lý biên giới, dữ liệu số, khả năng tìm kiếm điểm đến trên các nền tảng trực tuyến và hệ thống AI.    

Trong kỷ nguyên du lịch được hỗ trợ bởi AI, một điểm đến có thể có tài nguyên rất tốt nhưng vẫn mất cơ hội nếu thông tin trên môi trường số thiếu thống nhất, không cập nhật hoặc khó được các công cụ tìm kiếm và trợ lý AI nhận diện.

WEF đưa ra ví dụ của Đức. Dữ liệu về điểm tham quan, sự kiện, lưu trú và dịch vụ từ các địa phương được chuẩn hóa thành một hệ thống dữ liệu có thể đọc bằng máy, tạo điều kiện để công cụ tìm kiếm, nền tảng số và AI khai thác.    

Việt Nam đã có hướng đi tương đồng. Nghị quyết 26-NQ/TW yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, nền tảng số du lịch quốc gia, hệ sinh thái du lịch thông minh; đồng thời phát triển dữ liệu nội dung gốc du lịch Việt Nam đa ngôn ngữ và ứng dụng dữ liệu lớn, AI trong quảng bá, xúc tiến, quản trị danh tiếng điểm đến.   

Thách thức tiếp theo nằm ở khả năng duy trì hoạt động khi xảy ra gián đoạn. WEF đề xuất tăng tính liên kết giữa hàng không, đường sắt, đường bộ, đường biển; duy trì hệ thống đặt dịch vụ, thanh toán và thông tin; chuẩn bị phương án dự phòng, truyền thông khủng hoảng và phối hợp ứng phó.

Nghị quyết 26 cũng đặt yêu cầu xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, kế hoạch ứng phó khủng hoảng du lịch trước thiên tai, dịch bệnh, sự cố an toàn và các biến động lớn. Như vậy, năng lực chống chịu của du lịch Việt Nam cần được xem như một phần của năng lực cạnh tranh.

Cạnh tranh bằng giá trị, không chạy đua giảm giá

Đây có lẽ là thông điệp có ý nghĩa trực tiếp nhất đối với Việt Nam. WEF ghi nhận năng lực cạnh tranh về giá là một trong những trụ cột yếu nhất của TTDI giai đoạn 2024 - 2026.

Chi phí lao động, vận tải và các yếu tố đầu vào tăng khiến nhiều điểm đến khó duy trì lợi thế chỉ bằng giá rẻ. Trong 3/4 nền kinh tế được xếp hạng, năng lực cạnh tranh về giá đã giảm trong giai đoạn này.    

Vấn đề không phải điểm đến đắt hay rẻ, mà du khách có cảm thấy chất lượng trải nghiệm tương xứng với số tiền bỏ ra hay không.

Costa Rica là một ví dụ. Quốc gia này đứng thứ 86 về khả năng cạnh tranh giá nhưng đứng thứ tư về tính bền vững du lịch. Năm 2025, lượng khách quốc tế chỉ tăng khoảng 1%, trong khi mức chi tiêu bình quân mỗi chuyến tăng khoảng 15%, lên 1.848USD.    

Bài học với Việt Nam rất rõ. Cạnh tranh bằng giá có thể giúp thu hút khách trong ngắn hạn, nhưng giá trị văn hóa, chất lượng dịch vụ, thiết kế trải nghiệm, thương hiệu điểm đến và khả năng giữ gìn tài nguyên mới tạo ra sức cạnh tranh dài hạn.

Nghị quyết 26-NQ/TW cũng đặt chất lượng, bản sắc và trải nghiệm khác biệt làm phương thức cạnh tranh chủ đạo; yêu cầu phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và hướng tới nhóm khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.    

Đây là cơ sở để Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh các sản phẩm văn hóa, di sản, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, MICE, thể thao, du thuyền, kinh tế đêm, mua sắm, giải trí và các sản phẩm gắn với công nghiệp văn hóa.

Khi giá trị trải nghiệm tăng lên, mục tiêu của du lịch cũng thay đổi: khách ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và có lý do để quay lại.

WEF đề xuất đánh giá hiệu quả du lịch bằng tác động kinh tế tại địa phương, chất lượng việc làm, môi trường, mức độ phân bổ khách và sự hài lòng của cư dân, thay cho việc chỉ nhìn vào số lượng khách

WEF đề xuất đánh giá hiệu quả du lịch bằng tác động kinh tế tại địa phương, chất lượng việc làm, môi trường, mức độ phân bổ khách và sự hài lòng của cư dân, thay cho việc chỉ nhìn vào số lượng khách

Tăng trưởng du lịch phải tạo ra lợi ích ở cộng đồng

Một trong những cảnh báo đáng suy nghĩ nhất của WEF nằm ở khoảng cách giữa tăng trưởng lượng khách và mức độ hưởng lợi của cộng đồng.

Theo TTDI 2026, tác động kinh tế - xã hội của du lịch đã suy giảm trong giai đoạn 2024 - 2026, trong khi sức ép từ tập trung khách và quá tải vẫn cao hơn trước đại dịch.

WEF cảnh báo tăng trưởng khách không tự động tạo ra lợi ích rộng khắp. Nếu tốc độ phát triển vượt quá sức chứa của địa phương, du lịch có thể kéo theo ùn tắc, chi phí sinh hoạt tăng, áp lực lên hạ tầng, nhà ở, nước, năng lượng và dịch vụ công.   

Bởi vậy, WEF đề xuất đánh giá hiệu quả du lịch bằng tác động kinh tế tại địa phương, chất lượng việc làm, môi trường, mức độ phân bổ khách và sự hài lòng của cư dân, thay cho việc chỉ nhìn vào số lượng khách.

Đây là điểm Việt Nam cần đặc biệt quan tâm khi nhiều điểm đến đang tăng tốc phát triển.

Cùng với lượng khách tăng, bài toán đặt ra là người dân địa phương có thêm sinh kế hay không, doanh nghiệp nhỏ có tham gia được chuỗi cung ứng hay không, sản phẩm bản địa có được tiêu thụ với giá trị cao hơn hay không, nguồn thu từ du lịch có quay trở lại đầu tư cho hạ tầng và môi trường hay không.

Nghị quyết 26-NQ/TW đặt cộng đồng dân cư ở vị trí chủ thể tham gia và thụ hưởng; đồng thời yêu cầu hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để người dân có sinh kế bền vững từ du lịch.    

Đây cũng là lý do cần chuyển từ tư duy “đón được bao nhiêu khách” sang tư duy rộng hơn “mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị cho điểm đến và giá trị ấy được phân bổ ra sao?”.

Nhân lực sẽ quyết định khả năng biến tăng trưởng thành chất lượng

WEF dự báo đến năm 2035, nhu cầu lao động của ngành Du lịch toàn cầu có thể vượt nguồn cung hơn 43 triệu người, tương đương thiếu hụt khoảng 16%. Vấn đề nằm ở số lượng nhưng sâu hơn là kỹ năng, kinh nghiệm, khả năng tuyển dụng và giữ chân người lao động.    

AI và công nghệ số có thể nâng năng suất, song WEF nhấn mạnh công nghệ cần được sử dụng để hỗ trợ người lao động, không làm mất đi yếu tố con người vốn quyết định chất lượng trải nghiệm du lịch.

Đây là bài toán Việt Nam khó có thể giải quyết bằng đào tạo ngắn hạn. Ngành cần một hệ thống phát triển nhân lực gắn chặt hơn với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và địa phương; nâng chất lượng nghề, ngoại ngữ, kỹ năng số, năng lực quản trị, kỹ năng phục vụ các phân khúc khách cao cấp; đồng thời tạo lộ trình nghề nghiệp đủ hấp dẫn để giữ chân người giỏi.

Nghị quyết 26-NQ/TW yêu cầu xây dựng đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng, vững về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, theo kịp công nghệ và hội nhập quốc tế; đồng thời tăng liên kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.    

Đồng thời, đặt vấn đề phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy liên kết vùng, liên kết xuyên biên giới và xây dựng các tập đoàn, tổng công ty du lịch có năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây chính là phần “hệ thống hỗ trợ” mà WEF nhấn mạnh bên cạnh câu chuyện nhân lực.

Việt Nam đang hướng tới quan tâm nhiều hơn tới chất lượng của tăng trưởng và sự hài lòng của du khách mới là thước đo cao nhất của ngành Du lịch

Việt Nam đang hướng tới quan tâm nhiều hơn tới chất lượng của tăng trưởng và sự hài lòng của du khách mới là thước đo cao nhất của ngành Du lịch

Tăng năng lực chống chịu, khả năng thích ứng của du lịch

Điểm giao nhau giữa 5 ưu tiên của WEF và Nghị quyết 26-NQ/TW nằm ở một yêu cầu lớn hơn: Du lịch Việt Nam cần được tổ chức như một hệ sinh thái có khả năng thích ứng, nơi thị trường, hạ tầng, dữ liệu, sản phẩm, doanh nghiệp, cộng đồng và nhân lực cùng vận hành.

TTDI 2026 ghi nhận 14/17 trụ cột được cải thiện trong giai đoạn 2024 - 2026. Tuy nhiên, hai chỉ số đi ngược xu hướng là năng lực cạnh tranh về giá, giảm 3,1% và tác động kinh tế - xã hội của du lịch, giảm 3,5%.

Những con số ấy đặt ra một vấn đề quan trọng là tăng trưởng về lượng chưa đủ để bảo đảm chất lượng phát triển.

Việt Nam hiện đứng thứ 52/110 nền kinh tế trong TTDI 2026, tăng 7 bậc, đạt 4,15 điểm. Kết quả này mở ra một vị thế mới nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn: Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn tới chất lượng của tăng trưởng.

Nghị quyết 26-NQ/TW đã đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam hướng tới đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, đón 45 - 50 triệu khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, tổng thu 80 - 90 tỉ USD; đồng thời xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh và cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia.

Những mục tiêu lớn ấy sẽ khó đạt được nếu chỉ tập trung vào quảng bá và tăng lượng khách.

Năng lực chống chịu phải trở thành một tiêu chí của điểm đến; dữ liệu phải trở thành hạ tầng mới; cộng đồng phải thực sự hưởng lợi; nhân lực phải được coi là nền tảng của chất lượng; còn sản phẩm phải tạo ra lý do để du khách ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn.

WEF nhận định rằng những điểm đến thành công trong giai đoạn tới sẽ không nhất thiết là những nơi tăng trưởng nhanh nhất, mà là những nơi có thể duy trì hoạt động, thích ứng với gián đoạn và tạo ra kết quả tích cực cho du khách, doanh nghiệp và cộng đồng.    

Với Việt Nam, 5 ưu tiên ấy có thể được nhìn như một khung tham chiếu để cụ thể hóa mục tiêu chuyển từ tăng trưởng dựa trên số lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, giá trị và sức chống chịu.

Khi thế giới ngày càng khó đoán định, năng lực cạnh tranh của một điểm đến sẽ nằm ở khả năng đứng vững trước biến động, giữ được sức hấp dẫn và biến dòng khách thành giá trị lâu dài cho nền kinh tế, văn hóa và cộng đồng.

NGUYỄN ANH; ảnh: HOÀNG TRÀ - DUY KHÁNH

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/du-lich/5-uu-tien-de-du-lich-viet-nam-vung-vang-truoc-mot-the-gioi-nhieu-bien-dong-274798.html