Nhà báo Hồng Vinh: Vài phác thảo từ mấy suy ngẫm về nghề báo, về đời

Những ngày cuối tháng 5, công việc văn chương bề bộn, nhưng rồi mạch viết vẫn liền trang. Như hoa đến kỳ hoa nở, cây đến độ quả tròn, tâm thái an yên, càng thấy được cuộc sống mỗi con người phải gắng công nhiều lắm mới thuận theo lẽ tự nhiên. Soi vào từng trang tự truyện của PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh (nhà báo Hồng Vinh), tôi càng tâm đắc và nể phục ý chí và khát vọng cống hiến của một cây viết đã hơn 6 thập niên, để lại cho đời hàng chục tập sách nhiều thể loại…

Vài dòng khởi đầu như vậy cũng là tâm tư cá nhân tôi với nhà báo - nhà thơ Hồng Vinh - một cái tên vừa thân thương, đôi lúc tưởng như nghiêm khắc đấy, nhưng cũng rất biết trào lộng thân gần, càng là biết người biết của. Con người ấy rất biết khi nào phải nói ra, khi nào cần im lặng trong chốn trường văn trận bút mà bản thân ông luôn phải như cây trụ cột chống chịu từ muôn phía, kể cả vô vàn vinh dự hoa thảm trùng trùng đến những kê kích thị phi, Hồng Vinh chắc chắn đã quen rồi.

Và với chúng tôi, nhà báo Hồng Vinh luôn như người anh lớn, người đồng nghiệp chí thiết trong nghề báo và một tấm lòng rộng mở với thơ ca nguồn cội đã cho thế hệ sau như chúng tôi thêm sự mạnh mẽ dấn bước trong nghề văn bút.

Khi đọc từng dòng, từng trang trong cuốn tự truyện Mấy suy ngẫm về nghề báo, về đời của nhà báo Hồng Vinh, lòng tôi hàm chứa nỗi bâng khuâng. Có lẽ nào đất nước máu thịt ruột già của chúng ta từ các cuộc chiến tranh vệ quốc đến cuối thế kỷ XX vẫn còn rất nhiều vết thương, những vùng đất, con người, cuộc đời thăm thẳm vậy?

Cuốn tự truyện “Mấy suy ngẫm về nghề báo, về đời” của nhà báo Hồng Vinh

Cuốn tự truyện “Mấy suy ngẫm về nghề báo, về đời” của nhà báo Hồng Vinh

Hồng Vinh sinh năm 1945, khi nạn đói bão bùng quật xuống dân tộc cơ hàn chịu ách nô lệ trăm năm, thì tất nhiên tuổi thơ ông và nhiều người trong chúng ta sẽ là thiếu đói, bữa sắn bữa khoai, quần thâm áo vá, chín mười tuổi đã đầu tắt mặt tối trên cánh đồng, chai sạn còn hằn in trong từng trang báo, trang văn đến hôm nay.

Đất nước thật quá lạ kỳ, tôi sinh năm 1973 mà có khác gì, chín mười tuổi đã cặm cụi gánh phân, tát nước, cuốc đất, mò cua, lấm lem từng trang sách trong khói đèn dầu, ánh trăng suông. Khen rằng cha ông ta từ máu lửa rũ bùn đứng dậy sáng lòa thật đáng tự hào lắm chứ, mà sao cứ thấy tui tủi khi trong thập kỷ tám mươi, đầu những năm chín mươi thế kỷ trước, lứa chúng tôi và rộng hơn là các vùng quê trên cả nước đều thiếu đói trầm trọng.

Người nông dân thuở ấy làm ra hạt thóc nhưng có mấy khi được ăn no, nghĩ sao được những điều to tát. Vậy mà Hồng Vinh vào tuổi lên mười đã phải tất bật mọi công việc từ tát gầu sòng, gầu giai, cuốc đất, xếp ải, cày bừa trong nắng gió vùng đất xã Nam Chấn, Nam Trực, Nam Định, trong gia đình có bảy anh chị em, nắng mưa dầu dãi với khoai sắn cõng cơm. Cuộc sống cơ cực trui rèn nên một Hồng Vinh sớm lam lũ, kiên cường từ tấm bé. Cái sự lam làm ấy đã giúp Hồng Vinh vượt qua mọi gian khó từ khi vào cổng trường đại học cho đến hôm nay.

Và Hồng Vinh với cái tên khi lọt lòng mẹ là Nguyễn Duy Lự đã sớm mang trong mình ý chí và khát vọng học tập làm sao thành người có ích cho gia đình và xã hội, đâu dám nghĩ đến chức này chức nọ?! Chính nền tảng gia đình nông dân mà ông được sinh ra và thực hành đúng nghĩa của con em nông dân, thấm thía hạt lúa củ khoai, thấm đẫm mồ hôi hai sương một nắng, để sau này chúng ta vui mừng có một nhà báo Hồng Vinh - mạnh mẽ và sâu sắc; một nhà thơ Hồng Vinh tình đất tình người, tình yêu sâu đậm mà bình dị đến sáng trong. Phải đi qua rất nhiều khổ đau cơ cực, thậm chí là hố gai miệng vực trong những gió nhẹ mây bông mới rèn đúc lên một Hồng Vinh như hôm nay chúng ta đang sống cùng ông. Đó chính là sự trưởng thành từ cách mạng, từ khói lửa chiến tranh, từ bao cấp quan liêu cứng nhắc trì trệ đến tận cùng và sang thời kinh tế thị trường ngang ngửa hôm nay mà ông và cả thế hệ ông có quyền tự hào.

Mới chín, mười tuổi nơi đồng đất quê hương, trong những năm cả nước sục sôi đánh Mỹ, hạt lúa củ khoai đều phải gom góp dành cho tiền tuyến phía trước, hằn sâu trong ký ức của cậu bé nhi đồng, thiếu niên Hồng Vinh là hình ảnh người cha với chiếc thuyền nan vận chuyển hàng hóa và nhân dân nơi vùng chiêm trũng.

Ba sào đất cằn cỗi trên nền lò gạch cũ, bốn bề sông nước ở cái cầu Vòi - Lạc Đạo đã in hình bóng nhỏ bé mà rắn rỏi của cậu bé Hồng Vinh, khi cha mẹ đưa người con út tới đó dựng ba gian nhà nhỏ tường đất, mái rạ, lúc nào cũng như muốn sập xuống trong giông gió. Cậu bé hiếu học nơi vườn hoang ngày càng trĩu quả, như chuối, bí, bầu, mướp, bắp cải để sau này sớm đi tới góc bể chân trời Hồng Vinh vẫn chẳng thể nào quên mảnh vườn nơi lò gạch mướt mát tươi xanh ấy đã làm nên chất men say - say đời, say báo, say thơ.

Năm 1964, Hồng Vinh thi đỗ Tổng hợp Văn, lại được cử sang học chuyên ngành Sử cũng là câu chuyện rất riêng về nết đất, tính người. Với một người phẩm cách như Hồng Vinh, luôn biết nặng nhẹ, thì cái việc ông chấp hành phân công của tổ chức là lẽ đương nhiên.

Sau này cũng vậy, khi ông được chọn về Báo Nhân Dân năm 1968 với đích thân sự tuyển trạch của nhà báo Hoàng Tùng - Tổng Biên tập, cũng chỉ có vài câu ngắn gọn, bình dị nhưng rất tinh sắc của vị nhà báo lão thành. Những năm đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn hết sức cam go, quyết liệt và cái cách lãnh đạo Báo Nhân Dân phân công Hồng Vinh vào tuyến lửa Trường Sơn làm phóng viên chiến trường cũng chỉ với vài câu ngắn gọn, khẩn trương trên ghế đá gốc cây đa trụ sở tờ báo Đảng thâm nghiêm…

Chúng ta đã sớm có một thế hệ phóng viên làm báo ở chiến trường từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó, ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các nhà văn, nhà báo đã lập tức có mặt ở chiến trường. Nhà báo Hồng Vinh là một trong số đó. Chiến trường. Đạn bom. Sự sống và cái chết mong manh ẩn hiện.

Ở lứa tuổi đôi mươi, ai cũng muốn cống hiến trí tuệ và sức lực, sẵn sàng cả máu xương của mình cho Tổ quốc. Đã có nhiều nhà văn, nhà báo hy sinh nơi tuyến đầu ác liệt như Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Trọng Định… nhưng tất cả càng thêm hun đúc ngọn lửa chiến đấu cho ngày thống nhất non sông. Hồng Vinh tự nhận thức sâu sắc cái cao cả của lẽ đời ấy, nên ông đã hành động nhất quán để có các tác phẩm báo chí theo hướng đó.

Tôi cũng như thế hệ sau ông chẳng ngờ được Hồng Vinh thành phóng viên chiến trường theo một cách rất “đời” như vậy. Đúng như cái cách Hồng Vinh nhớ lại dường như chẳng sót từ nào: “Một buổi sáng đầu xuân năm 1971, khi tôi vừa bước vào cổng báo, thấy Phó Tổng Biên tập, nhà văn Thép Mới vừa ở chiến trường ra, đang ngồi ghế đá dưới gốc cây đa cổ thụ, miệng ngậm thuốc lá, nét mặt trầm ngâm. Ông gọi tôi lại và nói: Có việc giao cho Vinh đây. Cậu chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Hôm qua mình vừa làm việc với Tổng Biên tập Hoàng Tùng. Hiện tại ở Bộ Tư lệnh 559, ông Đồng Sỹ Nguyên là Tư lệnh và Chính ủy là ông Đặng Tính đã gặp trực tiếp và nói với mình rằng, cuộc chiến đấu hiện đang rất khó khăn, gian khổ, sự hy sinh của quân và dân ta rất lớn, song theo dõi trên báo đài, sự phản ánh cuộc chiến đấu ở đường Trường Sơn còn ít quá. Hai ông đề nghị báo cử phóng viên trực tiếp vào chiến trường tác nghiệp. Tuần sau, sẽ có chuyến xe đặc biệt của Ban Thanh niên xung phong 67 cấp tốc vào trong đó, mình đã liên hệ và cử cậu tham gia”.

Hồng Vinh đã trở thành phóng viên chiến trường qua “mệnh lệnh miệng” như vậy! Không công văn, không quyết định dấu son, tự hành quân theo các việc mà bản thân tự hình dung theo nhiệm vụ cấp trên giao. Phóng viên chiến trường cận kề sống chết, ngày nào cũng chứng kiến sự hy sinh xương máu của quân và dân miền Bắc hướng về miền Nam ruột thịt đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong trái tim chàng thanh niên 26 tuổi. Những chuyến công tác vượt qua bom vùi, đạn lấp.

Người chiến sĩ nơi tuyến lửa dũng cảm vô song thì người phóng viên ở chiến trường phản ánh sao đây để xứng đáng với những hy sinh cực kỳ lớn lao và thiêng liêng ấy? Hồng Vinh đã tự đặt ra cho mình không chỉ phong cách sống, mà cả phong cách viết, còn sẵn sàng chuẩn bị sự hy sinh cho chính bản thân mình, như người anh ruột của ông - liệt sĩ Nguyễn Duy Lộ cũng vừa mới anh dũng hy sinh nơi vùng ông đang tác nghiệp.

Sau này, trong một dịp tháng bảy năm 2010 thăm nghĩa trang vùng Trị - Thiên, khi thắp hương ở Nghĩa trang Đường 9 và Nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn, người em ruột - nhà báo Hồng Vinh, đã có vần thơ rất xúc động về người anh liệt sĩ của mình vẫn chưa tìm thấy mộ: Tháng 7 này em lại vào Quảng Trị/ Lại qua Đường 9, Khe Sanh/ Lại dõi nhìn hàng vạn tấm bia liệt sĩ/ Khấp khởi trong lòng sẽ tìm được mộ anh…/ Trước lúc đi xa, mẹ cầm tay dặn em/ “Gắng tìm được mộ anh con nhé!”/ Năm tháng theo lời cầu mong đau đáu/ Xin mách bảo em, anh nằm nơi nao?

Cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta cho ngày thống nhất non sông đã có biết bao anh hùng liệt sĩ ngã xuống, đến hôm nay nhiều người còn chưa tìm thấy mộ, thậm chí dòng tên tuổi cũng mờ dần. Chúng ta càng cảm nhận sâu sắc nỗi đau thương và nhất là trách nhiệm của người còn sống, trong đó có đội quân cầm bút, với người đã khuất.

Những năm tháng ở chiến trường chính là quãng đời đẹp nhất đã tôi rèn nên ngòi bút, phong cách sống và viết Hồng Vinh. Cũng vẫn Hồng Vinh ấy đã kịp thời có mặt trong Chiến dịch Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 với loạt bài phóng sự rực lửa căm hờn mà cũng thấm đẫm chất sử thi huyền thoại. Mỗi buổi tối trong chiến dịch 12 ngày đêm năm ấy, Hồng Vinh đều có mặt trên nóc tòa nhà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cao nhất thành phố Hà Nội lúc bấy giờ cùng với các chiến sĩ phòng không kiên cường chiến đấu. Mỗi khi nhìn thấy máy bay B52 rơi, có tin giặc lái Mỹ nhảy dù ở đâu, Hồng Vinh lập tức nhảy lên xe com-măng-ca cùng nhóm chiến sĩ phòng không tới đó viết bài. Và bài báo Bắt sống giặc lái B52 trên sông Hồng vẫn còn lưu dấu trong tâm trí nhiều người đọc.

Đất nước hòa bình, nhà báo Hồng Vinh lại sớm có mặt ở Trường Sa - quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc từ những năm 1982 trên con tàu nhỏ bé nhưng kiên cường vượt qua mọi sóng dữ trong mùa mưa bão để đến với cán bộ, chiến sĩ nơi gặp khó khăn thiếu thốn trăm bề.

Ngày đó, các đảo nổi, đảo chìm mà nhà báo Hồng Vinh đặt chân đến cái gì cũng thiếu. Việc xây đảo chủ yếu bằng sức người. Những đôi vai lính in hằn vết cứa của đá hồng, bê tông, sắt thép trong nắng gió Trường Sa. Câu chuyện của người lính đảo ùa vào mọi ngóc ngách tâm hồn, hiện ra thô ráp đến rơi nước mắt.

Nhà báo Hồng Vinh tác nghiệp trong sự xúc động và sẻ chia cao độ với người lính đảo. Nhưng ngày đó, để chuyển tin bài kịp thời về đất liền không phải dễ vì chưa có Internet. Vậy mà Hồng Vinh cùng lớp nhà báo đầu tiên đến với quần đảo Trường Sa đầu những năm tám mươi thế kỷ trước đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có những bài báo, trang văn, hình ảnh chân thực và sinh động còn lưu giữ tới hôm nay.

Nhà báo Hồng Vinh sau này với cương vị là Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII và khóa IX; hai khóa là đại biểu Quốc hội… thì vẫn là nguyên ở đó con người trách nhiệm, siêng năng, sâu sắc, chân thành, ôm chứa nhân văn.

Từ Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, giữa năm 2001, ông được Bộ Chính trị điều động đảm nhiệm cương vị Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương…, ông lần lượt vượt qua những áp lực từ công việc chỉ đạo và quản lý báo chí - xuất bản thời hội nhập. Những điều cần viết về những công việc đa dạng, phong phú, phức tạp thời kỳ mới, thêm một lần thử thách bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm nghiệp vụ mà ông đã được tích lũy, trải nghiệm gần nửa thế kỷ đã giúp Hồng Vinh trụ vững và vinh dự được Đảng, Nhà nước tôn vinh là Nhà báo lão thành tiêu biểu nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam vừa qua.

Niềm vinh dự ấy càng thúc giục ông đào sâu suy ngẫm để tìm cách giải quyết hài hòa giữa bản lĩnh chính trị của người cầm bút trong kỷ nguyên dân tộc vươn mình với năng lực nắm bắt thực tiễn vô cùng sôi động; giữa ý chí và khát vọng; giữa ước mơ và thực tiễn của cuộc sống đa dạng, đa chiều… Nói cách khác là ý thức vượt lên chính mình trong từng bài viết, từng tập sách sẽ tiếp tục được xuất bản sau này. Tôi trân trọng coi đó là những “thông điệp” tâm huyết mà nhà báo Hồng Vinh muốn gửi gắm qua cuốn tự truyện về nghề báo và lẽ sống của người cầm bút hôm nay.

Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/bao-chi/nha-bao-hong-vinh-vai-phac-thao-tu-may-suy-ngam-ve-nghe-bao-ve-doi-233022.html