Nhà sản xuất 'Hộ linh tráng sĩ' nói không thể đi xin lòng thương của khán giả
Sau hơn 10 ngày ra rạp, "Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh" đạt hơn 35 tỷ đồng, chưa tương xứng kỳ vọng dành cho dự án lịch sử được đầu tư lớn. Nhà sản xuất Ngô Thị Bích Hạnh cho rằng khi phim hoàn thành, tác phẩm thuộc về công chúng. Với những dự án khai thác lịch sử, văn hóa và di sản, người làm phim phải xác định một hành trình dài hạn.
Tại hội thảo Phát triển công nghiệp văn hóa và điện ảnh gắn với du lịch và bảo tồn di sản - Cơ hội phát triển của TPHCM, Thành phố sáng tạo điện ảnh của UNESCO ngày 9/9, nhà sản xuất Ngô Thị Bích Hạnh có những chia sẻ đáng chú ý về hành trình của Hộ linh tráng sĩ sau khi phim ra rạp.
Bên cạnh câu chuyện doanh thu, trường hợp của Hộ linh tráng sĩ cũng mở ra thảo luận về cách đưa lịch sử, di sản lên màn ảnh, xây dựng khán giả và phát triển công nghiệp điện ảnh gắn với du lịch tại TPHCM.
'Điện ảnh không có nhiệm vụ dạy lịch sử'
Hộ linh tráng sĩ nhận được sự chú ý ngay từ khi công bố dự án nhờ đề tài lịch sử, dàn diễn viên đông đảo, những trường đoạn hành động cùng phần phục trang, mỹ thuật được đầu tư để tái hiện Việt Nam thế kỷ 10.
Với quy mô sản xuất lớn và thời điểm ra mắt dịp lễ 2/9, bộ phim của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình từng được kỳ vọng tạo sức bật tại phòng vé. Tuy nhiên, sau khi chính thức khởi chiếu cuối tháng 8, tác phẩm nhận nhiều ý kiến trái chiều.

Nhà sản xuất đối diện với những ý kiến xoay quanh doanh thu đáng thất vọng của Hộ linh tráng sĩ.
Tại hội thảo, bà Ngô Thị Bích Hạnh - đại diện nhà sản xuất - không né tránh thực tế bộ phim đang nhận những đánh giá khác nhau từ công chúng. Theo bà Ngô Thị Bích Hạnh, một tác phẩm điện ảnh không thể đi xin lòng thương của khán giả. Đó là con dao hai lưỡi.
“Khi một bộ phim hoàn thành, tác phẩm không còn thuộc về những người sáng tác nữa. Tác phẩm thuộc về công chúng. Một tác phẩm có thể có giá trị ở những mặt khác nhau, có những người thích, có những người không thích”, bà Hạnh chia sẻ.
Nhà sản xuất nhìn câu chuyện của Hộ linh tráng sĩ trong một hành trình dài, mọi thứ đi qua như cơn bão. Theo bà, làm những dự án liên quan văn hóa, di sản vốn không dễ, với Việt Nam thế kỷ 10 khó khăn càng lớn.
“Làm di sản, văn hóa không thể ngắn hạn được, phải rất kiên tâm và bình tĩnh”, bà nói. Khó khăn của Hộ linh tráng sĩ bắt đầu từ khi ê-kíp đọc kịch bản. Dữ liệu, đặc biệt là tư liệu hình ảnh về Việt Nam thế kỷ 10, quá ít để những người làm phim có thể hình dung đầy đủ thế giới cần xuất hiện trên màn ảnh.
Đoàn phim sau đó tổ chức một hội thảo tại Ninh Bình với sự tham gia của chuyên gia lịch sử, người nghiên cứu cổ phục, nhà thiết kế, người làm điện ảnh và chính sách văn hóa. Những tranh luận kéo dài bởi ngay giữa các chuyên gia cũng tồn tại cách nhìn khác nhau", nhà sản xuất nói.
Điểm chung cuối cùng, theo bà Hạnh, là mong muốn “cùng nhau bắt tay và kể những câu chuyện về cha ông của mình”.

Diễn viên Hải Yến khẳng định bộ phim là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
Từ những dữ liệu ít ỏi còn lại, ê-kíp đối chiếu tư liệu của các giai đoạn trước và sau, nghiên cứu điều kiện văn hóa, thổ nhưỡng để dựng nên một thế giới Việt Nam thế kỷ 10 chứa nhiều chất liệu bản địa nhất có thể.
Công việc đi vào những chi tiết nhỏ. Chỉ vài dòng kịch bản mô tả một đêm Trung thu cũng đặt ra hàng loạt câu hỏi: đèn lồng khi đó ra sao, lễ hội có hoạt động gì, hình dáng con lân thế nào, hàng quán bán gì, người dân ăn uống và sinh hoạt ra sao.
Diễn viên Đỗ Hải Yến - người vào vai Hoàng hậu họ Dương - cho rằng di sản trong điện ảnh không chỉ nằm ở trang phục hay bối cảnh mà còn ở cách nhân vật sống, suy nghĩ và ứng xử.
Theo nữ diễn viên, điện ảnh không có nhiệm vụ dạy lịch sử. Giá trị của một bộ phim lịch sử có thể nằm ở việc khiến người xem cảm thấy quá khứ bớt xa xôi, từ đó tò mò và muốn tìm hiểu thêm về nhân vật, thời đại sau khi rời rạp.
Đưa điện ảnh vào trường học, tháo thủ tục cho đoàn phim
Câu chuyện của Hộ linh tráng sĩ cũng đặt ra vấn đề rộng hơn. Một dự án điện ảnh khai thác lịch sử và di sản sẽ được hỗ trợ thế nào từ môi trường sản xuất, chính sách và việc xây dựng công chúng.
NSND Thanh Thúy - Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM - cho biết sau khi gia nhập Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực điện ảnh, TPHCM phải chuyển sáu cam kết với UNESCO thành những chương trình cụ thể.

NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy khẳng định danh hiệu Thành phố sáng tạo Điện ảnh UNESCO vừa là vinh dự lớn vừa là trách nhiệm đòi hỏi thành phố phải hành động ngay để thực hiện các cam kết quốc tế.
Một trong những hướng được chuẩn bị là đưa điện ảnh vào trường học. Trong năm học 2026-2027, thành phố dự kiến triển khai kế hoạch giúp học sinh tiếp cận nghệ thuật truyền thống, điện ảnh, âm nhạc dân tộc và văn hóa dân gian.
Riêng với điện ảnh, học sinh sẽ từng bước tiếp cận cách cảm thụ tác phẩm, ngôn ngữ điện ảnh và những kiến thức ban đầu về quá trình làm phim. Theo NSND Thanh Thúy, các nhà sản xuất, người làm phim và nghệ sĩ cũng cần tham gia vào quá trình này.
TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TPHCM - đặc biệt quan tâm hướng đưa điện ảnh vào trường học. Từ kinh nghiệm hoạt động bảo tàng, bà cho rằng việc hình thành công chúng phải bắt đầu từ giáo dục. Người xem cần dần có thói quen tiếp nhận một bộ phim không chỉ ở phương diện giải trí mà còn từ giá trị văn hóa, nghệ thuật.

Theo chuyên gia, khi những giá trị lịch sử, văn hóa được kể bằng ngôn ngữ nghệ thuật hấp dẫn, di sản không chỉ được lưu giữ mà còn có thể trở thành nguồn lực cho sáng tạo, giáo dục, quảng bá văn hóa và du lịch.
TPHCM cũng đang tính đến cơ chế một cửa, kết nối các cơ quan, địa phương và bối cảnh, nhằm giảm việc nhà làm phim phải đi qua nhiều thủ tục hành chính. Thành phố cũng chuẩn bị một thiết chế hỗ trợ hoạt động sản xuất phim trong thời gian tới.
Theo TS Nguyễn Thị Hậu, TPHCM có nhiều không gian đô thị đủ khả năng trở thành bối cảnh điện ảnh. Thành phố cũng cần hệ thống phim trường được đầu tư bài bản và cơ chế hợp tác công - tư để khai thác nguồn lực tự nhiên, xã hội đang có.
Bối cảnh phim trở thành tài nguyên du lịch
Theo các khách mời, điện ảnh không nên được nhìn như một ngành đứng riêng. Một bộ phim có thể sử dụng di sản làm chất liệu, đưa hình ảnh điểm đến đến với công chúng và sau đó tiếp tục tạo giá trị cho du lịch, giáo dục cũng như các ngành công nghiệp sáng tạo khác.
NSND Thanh Thúy cho biết TPHCM đang hướng đến kết hợp văn hóa với du lịch, từ hoạt động xúc tiến quốc tế đến phát triển sản phẩm dựa trên tài nguyên văn hóa. Thành phố kỳ vọng những nguồn lực này có thể tạo ra các chỉ số cụ thể cho công nghiệp văn hóa và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
TPHCM sau sắp xếp có không gian rộng hơn, đồng thời sở hữu hệ thống di sản vật thể, phi vật thể và đời sống đô thị đa dạng. Đây là nguồn bối cảnh đáng kể cho các nhà làm phim nếu có cơ chế khai thác phù hợp.
Câu chuyện Hộ linh tráng sĩ phần nào cho thấy năng lực sản xuất điện ảnh của thành phố dù phim được thực hiện ở địa phương khác.
Bà Ngô Thị Bích Hạnh cho biết tác phẩm quay tại Ninh Bình nhưng văn phòng sản xuất đặt tại TPHCM và khoảng 80% nhân sự của dự án đến từ thành phố.

Bên cạnh câu chuyện doanh thu, trường hợp của Hộ linh tráng sĩ cũng mở ra thảo luận về cách đưa lịch sử, di sản lên màn ảnh, xây dựng khán giả và phát triển công nghiệp điện ảnh gắn với du lịch tại TPHCM.
Câu hỏi tiếp theo là làm thế nào kể được những câu chuyện về văn hóa, lịch sử và đời sống bản địa của chính TPHCM.
TS Nguyễn Thị Hậu cho rằng để thành phố thực sự phát huy vị thế Thành phố sáng tạo điện ảnh, cần ba yếu tố: năng lực và trách nhiệm của đội ngũ sáng tạo, chính sách địa phương đủ chủ động, cởi mở để khu vực tư nhân tham gia và kết nối quốc tế.
Bà Phạm Thị Thanh Hường - Trưởng Ban Văn hóa, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhận định - nguồn lực quốc tế không phải chỉ là nguồn lực về tài chính mà đó còn là kinh nghiệm sản xuất, công nghệ, nguồn nhân lực, phát triển thị trường và những ngành công nghiệp hỗ trợ trong toàn bộ chuỗi giá trị điện ảnh. Đại diện UNESCO cũng gợi mở hướng nghiên cứu mô hình đồng sản xuất, tạo điều kiện để những công đoạn của các dự án điện ảnh quốc tế có thể được thực hiện tại Việt Nam.


