Nhận diện 5 'điểm nghẽn', kích hoạt 4 trụ cột công nghệ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi bứt phá. Trước 5 điểm nghẽn về hạ tầng, dữ liệu và nhân lực cơ sở, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đưa vùng dân tộc thiểu số tham gia sâu vào chuỗi giá trị bền vững.

Những gam màu sáng từ tư duy quản lý theo kết quả đầu ra

Trong dòng chảy phát triển của nền kinh tế số, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từng được xem là vùng trũng bởi những rào cản tự nhiên về địa hình chia cắt và xuất phát điểm kinh tế thấp. Thế nhưng, những kết quả ghi nhận được trong 9 tháng năm 2026 từ việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đã cho thấy một sự chuyển dịch đầy tích cực và thực chất.

Đánh giá về chặng đường vừa qua, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết, thay vì chỉ dừng lại ở các văn bản mang tính định hướng chung, các tỉnh miền núi đã chủ động cụ thể hóa Nghị quyết thành những chương trình, kế hoạch hành động sát sườn với thực tế địa phương.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh - Ảnh: KHCN.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh - Ảnh: KHCN.

Điểm đột phá lớn nhất về mặt tư duy quản trị trong giai đoạn này là các địa phương đã từng bước chuyển dịch thành công từ phương thức theo dõi tiến độ hành chính đơn thuần sang quản lý nhiệm vụ theo kết quả đầu ra.

Sự thay đổi về chất trong cách tiếp cận đã nhanh chóng mang lại những con số ấn tượng tại nhiều địa bàn trọng điểm. Điển hình như tại Sơn La, địa phương này đã đạt và vượt tới 26 trên tổng số 41 chỉ tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hoàn thành việc phủ kín cáp quang và sóng 4G tại 100% số xã trên toàn tỉnh. Tại Lào Cai, hạ tầng viễn thông cũng ghi nhận bước tiến dài khi mạng lưới cáp quang đã vươn tới 99% số thôn, bản.

Quan trọng hơn cả, hoạt động khoa học và công nghệ giờ đây không còn nằm trên giấy hay đóng khung trong các phòng thí nghiệm, mà đã bắt nhịp trực tiếp với hơi thở cuộc sống và nhu cầu sản xuất.

Từ việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, dán nhãn truy xuất nguồn gốc cho nông sản đặc sản, cho đến phát triển công nghiệp điện tử, kinh tế cửa khẩu và dịch vụ logistics đều ghi nhận dấu ấn rõ nét của công nghệ. Đây chính là tiền đề quan trọng giúp hàng hóa vùng cao nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sức cạnh tranh và từng bước tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc gia cũng như toàn cầu.

Nhận diện khoảng cách thực chất và 5 điểm nghẽn kìm hãm đà tăng trưởng

Dù bức tranh chung có nhiều điểm sáng đáng khích lệ, song nhìn dưới góc độ phân tích chuyên sâu, sự phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn thiếu tính đồng đều và chưa tạo ra được cú hích đồng bộ trên toàn tuyến.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh, sự chênh lệch về kết quả triển khai giữa các địa phương vẫn còn khá rõ nét, thể hiện trực tiếp qua hạ tầng kết nối. Trong khi một số tỉnh đã tiệm cận mức phủ sóng tuyệt đối, thì tại Tuyên Quang hiện vẫn còn tới 57 thôn thuộc diện lõm sóng hoặc sóng yếu.

Tương tự, tại địa bàn có địa hình hiểm trở như Lai Châu, tỷ lệ thôn, bản có cáp quang mới dừng lại ở mức 88,59%. Bên cạnh những khoảng trống về hạ tầng vật lý, hạ tầng mềm là hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm chuyên ngành ở một số nơi vẫn rơi vào tình trạng phân mảnh, chưa được kết nối và chia sẻ đồng bộ.

Các tỉnh miền núi đã áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào đời sống sinh hoạt và sản xuất - Ảnh: KHCN.

Các tỉnh miền núi đã áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào đời sống sinh hoạt và sản xuất - Ảnh: KHCN.

Đáng chú ý, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ thẳng thắn lưu ý một thực tế rằng giữa việc hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch trên báo cáo và việc tạo ra chuyển biến thực chất về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội vẫn còn một khoảng cách không nhỏ. Nhìn thẳng vào thực tiễn địa phương, Thứ trưởng Hoàng Minh đã chỉ rõ năm điểm nghẽn lớn đang trực tiếp kìm hãm năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

Rào cản đầu tiên nằm ở nguồn lực tài chính còn hạn chế, đi kèm với đó là tiến độ giải ngân vốn đầu tư còn chậm, làm lỡ nhịp các cơ hội phát triển công nghệ. Điểm nghẽn thứ hai và cũng là bài toán nan giải nhất hiện nay là sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ nhân lực chuyên trách về công nghệ và dữ liệu, đặc biệt là ở cấp xã.

Thứ ba là tình trạng hệ thống dữ liệu và các phần mềm quản lý chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc điều hành tích hợp. Thứ tư, xét về phía chủ thể trung tâm của chuỗi giá trị là doanh nghiệp, năng lực tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ của các đơn vị tại địa phương còn rất hạn chế, khiến các kết quả nghiên cứu khó đi vào thực tế sản xuất. Cuối cùng là sự lỏng lẻo, thiếu hiệu quả trong liên kết vùng cũng như mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Những khó khăn mang tính hệ thống này càng bộc lộ rõ nét hơn khi các địa phương thực hiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi khối lượng công việc và yêu cầu chuyên môn tại cơ sở tăng cao nhưng nhân lực kỹ thuật lại thiếu hụt, áp lực đè nặng lên bộ máy hành chính cấp xã là vô cùng lớn.

Bốn trụ cột giải pháp mở đường tham gia sâu vào chuỗi giá trị

Để tháo gỡ tận gốc những nút thắt trên, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế bền vững, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh đề xuất các tỉnh miền núi cần tập trung triển khai bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

Nhóm giải pháp mở đường đầu tiên là phải tiếp tục rà soát và tháo gỡ triệt để những vướng mắc về cơ chế, chính sách. Thực tế cho thấy, nhiều quy định mới được triển khai từ năm 2026 đã cơ bản cởi trói cho những khó khăn pháp lý trước đây, nhưng do tâm lý e ngại hoặc thói quen cũ, một số địa phương vẫn vận hành theo lối mòn.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục đồng hành, hướng dẫn thực hiện sát sao các quy định mới, trong đó kiên quyết xác định rõ nhiệm vụ, định lượng hóa sản phẩm đầu ra và chỉ đánh giá dựa trên kết quả thực chất.

Song hành với cải cách thể chế, nhiệm vụ trọng tâm thứ hai là xử lý dứt điểm điểm nghẽn về hạ tầng số và kết nối dữ liệu. Các địa phương cần chủ động phối hợp để xóa nhanh các vùng lõm sóng, mở rộng mạng lưới cáp quang và nâng cao chất lượng kết nối ngay tại cấp xã.

Trong quá trình xây dựng chính quyền số, các tỉnh cần ưu tiên phát triển các nền tảng số dùng chung nhằm tối ưu hóa khả năng kết nối và chia sẻ. Đặc biệt, yêu cầu về khai thác và liên thông dữ liệu bắt buộc phải được tính toán ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư dự án, qua đó ngăn chặn từ gốc tình trạng đầu tư phân tán, manh mún và trùng lặp gây lãng phí ngân sách.

Yếu tố quyết định sự thành bại của hai nhóm giải pháp trên nằm ở trụ cột thứ ba, đó là nâng cao năng lực triển khai ngay tại cơ sở. Thay vì đào tạo lý thuyết dàn trải, các địa phương cần tập trung đào tạo thực hành chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý nhiệm vụ khoa học công nghệ, quản trị dữ liệu và vận hành nền tảng số, lấy cấp xã làm trọng tâm.

Để giải bài toán thiếu hụt nhân sự trước mắt, một giải pháp rất linh hoạt được đặt ra là huy động lực lượng sinh viên các ngành kỹ thuật và những người có chuyên môn công nghệ về hỗ trợ trực tiếp, cầm tay chỉ việc cho cán bộ các xã trong suốt quá trình chuyển đổi số.

Mảnh ghép chiến lược thứ tư nhằm trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa kinh tế miền núi tham gia sâu vào chuỗi giá trị chính là việc thúc đẩy các bài toán công nghệ liên ngành, liên địa phương. Thay vì mỗi tỉnh tự xoay xở với nguồn lực hạn hẹp, các địa phương có tính chất tương đồng cần bắt tay giải quyết các bài toán lớn theo cụm thế mạnh.

Cụ thể, Lào Cai và Lạng Sơn có thể phối hợp chặt chẽ trong việc phát triển công nghệ cửa khẩu và hệ thống logistics thông minh để khơi thông dòng chảy thương mại. Trong khi đó, cụm các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Tuyên Quang có thể liên kết sâu về công nghệ sinh học, nghiên cứu giống cây trồng vật nuôi và công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch nhằm nâng tầm giá trị nông nghiệp vùng cao.

Đối với Thái Nguyên và Phú Thọ, sự hợp tác về công nghiệp điện tử và các công nghệ phục vụ sản xuất sẽ tạo ra cực tăng trưởng công nghiệp hiện đại cho toàn vùng. Nguyên tắc cốt lõi là mọi nhiệm vụ liên kết này phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường, gắn liền với khả năng tiếp nhận và ứng dụng của doanh nghiệp địa phương, tuyệt đối tránh dàn trải, phân tán nguồn lực.

Cùng với sự cam kết phối hợp, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật sát sao từ Bộ Khoa học và Công nghệ, sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ chính là điểm tựa vững chắc cho các địa phương. Khi năm điểm nghẽn cốt lõi được tháo gỡ bằng bốn nhóm giải pháp trúng đích, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ, đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi bứt phá, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế vững chắc trong chuỗi giá trị kinh tế quốc gia.

Gia Hân

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/nhan-dien-5-diem-nghen-kich-hoat-4-tru-cot-cong-nghe-cho-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-post365966.html