Nhận diện sớm - phòng ngừa xa vi phạm từ thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát

Công tác kiểm tra, giám sát (KTGS) và thi hành kỷ luật Đảng là một trong những phương thức lãnh đạo đặc biệt quan trọng của Đảng, có vai trò giữ vững kỷ cương, kỷ luật, phòng ngừa vi phạm và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng.

Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu cấp ủy quan tâm đúng mức, triển khai nghiêm túc, thường xuyên công tác KTGS thì ở đó nội bộ đoàn kết, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng được giữ vững, nhiệm vụ chính trị được thực hiện hiệu quả. Ngược lại, nơi nào buông lỏng công tác KTGS thì vi phạm dễ nảy sinh, tích tụ từ nhỏ thành lớn, từ cá nhân lan sang tập thể, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của tổ chức đảng và niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

 Đồng chí Bùi Công Vĩ, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy UBND tỉnh trao Giấy khen của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh cho 4 tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra, giám sát.

Đồng chí Bùi Công Vĩ, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy UBND tỉnh trao Giấy khen của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh cho 4 tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra, giám sát.

Soi chiếu vào thực tế, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác KTGS nói riêng, vẫn còn không ít hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra, nhắc nhở qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chậm được khắc phục, thậm chí lặp đi lặp lại ở nhiều tổ chức đảng. Điều đó cho thấy yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao năng lực nhận diện sớm – cảnh báo sớm – phòng ngừa sớm, kiên quyết không để “lỗ nhỏ đắm thuyền”, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, vi phạm đơn lẻ trở thành vi phạm có tính hệ thống.

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là qua công tác kiểm tra, giám sát tại cơ sở, có thể khái quát một số nhóm vi phạm điển hình mà các tổ chức đảng thường mắc phải. Việc chỉ rõ các nhóm vi phạm này không nhằm “bới lỗi”, mà quan trọng hơn là giúp các cấp ủy, tổ chức đảng tự soi, tự sửa, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa. Dưới đây là những nhóm vi phạm điển hình - dấu hiệu cần nhận diện sớm:

Thứ nhất, vi phạm trong xây dựng và thực hiện quy chế làm việc.

Đây là nhóm vi phạm tưởng chừng nhỏ, rất cơ bản, song lại tiềm ẩn nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Một số tồn tại phổ biến là: Chậm ban hành hoặc không ban hành quy chế làm việc theo quy định; quy chế làm việc sao chép máy móc, thiếu phù hợp với loại hình tổ chức đảng; không cập nhật, bổ sung khi Trung ương ban hành quy định mới. Cá biệt, có nơi quy chế làm việc còn quy định vượt thẩm quyền, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở nhưng lại “lấy nguyên” chức năng, nhiệm vụ của đảng ủy cơ sở đưa vào quy chế của chi bộ; phân định không rõ trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân; mối quan hệ công tác quy định chung chung, thiếu cụ thể.

Những hạn chế này đã được chỉ ra nhiều lần, song vẫn tồn tại dai dẳng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của người đứng đầu cấp ủy, còn xem nhẹ vai trò của quy chế làm việc; có biểu hiện khoán trắng cho cán bộ tham mưu; việc xây dựng quy chế chưa bám sát quy định của Trung ương về chức năng, nhiệm vụ từng loại hình tổ chức đảng; đội ngũ tham mưu còn hạn chế về nghiệp vụ.

Thứ hai, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.

Đây là nhóm vi phạm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân dẫn tới nhiều tổ chức đảng, đảng viên bị xem xét, xử lý kỷ luật. Các biểu hiện thường gặp là: Không tổ chức họp toàn thể đảng bộ, họp đảng ủy, ban thường vụ, chi bộ theo định kỳ; họp nhưng không ban hành nghị quyết, kết luận; biên bản ghi chép sơ sài, không phản ánh đầy đủ diễn biến và tinh thần cuộc họp. Có nơi bí thư hoặc phó bí thư tự quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể; sinh hoạt chi bộ mang tính hình thức, ít thảo luận, thiếu dân chủ; công tác cán bộ còn sai quy trình, quy định.

Không chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng chính là tiền đề hình thành sai phạm, là khởi đầu của những vi phạm lớn hơn. Khi nguyên tắc bị buông lỏng, kỷ cương bị phá vỡ, vai trò lãnh đạo của tập thể cấp ủy bị suy giảm, thì nguy cơ sai phạm là điều khó tránh khỏi.

Thứ ba, vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Nhóm vi phạm này thể hiện ở tình trạng buông lỏng lãnh đạo, thiếu kiểm tra, giám sát; không bàn bạc, thống nhất kịp thời trong tập thể về các chủ trương, nhiệm vụ quan trọng; chậm ban hành hoặc không ban hành kế hoạch triển khai nghị quyết cấp trên; tổ chức thực hiện nhiệm vụ thiếu kế hoạch, hiệu quả thấp. Một số cấp ủy chưa làm tốt vai trò lãnh đạo, để sai phạm phát sinh ở cấp dưới nhưng không kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, dẫn đến vi phạm lan rộng, kéo dài.

Những tồn tại trên làm mờ nhạt vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng ở cơ sở, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Thứ tư, vi phạm do thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên và hậu kiểm.

Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều vi phạm khác. Biểu hiện cụ thể là: Công tác KTGS còn mang tính đối phó, chỉ tiến hành khi có vụ việc phát sinh; cấp ủy khoán trắng cho ủy ban kiểm tra hoặc cán bộ tham mưu; chưa coi trọng công tác hậu kiểm. Có trường hợp ban hành kết luận kiểm tra nhưng không theo dõi, đôn đốc việc khắc phục; hồ sơ kiểm tra thiếu, không đầy đủ, không bảo đảm quy trình theo quy định.

Thực tế cho thấy, KTGS không chỉ là phát hiện sai phạm, mà quan trọng hơn là theo dõi, nhắc nhở, phòng ngừa để sai phạm không xảy ra hoặc không tái diễn.

Để công tác KTGS thực sự trở thành “lá chắn thép” bảo vệ Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp trọng tâm:

Trước hết, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác KTGS. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, không khoán trắng cho cấp dưới; coi KTGS là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với trách nhiệm cá nhân.

Thứ hai, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng theo đúng quy định của Trung ương, bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm; tránh sao chép máy móc, hình thức.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, bảo đảm tổ chức đầy đủ, đúng quy định các cuộc họp của đảng bộ, đảng ủy, ban thường vụ, chi ủy, chi bộ; sau mỗi kỳ họp kịp thời ban hành nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện.

Thứ tư, tăng cường giám sát thường xuyên, không chỉ phát hiện sai phạm mà chú trọng phòng ngừa; làm tốt công tác hậu kiểm, theo dõi việc khắc phục khuyết điểm, truy trách nhiệm đến cùng.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác KTGS, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm tính công khai, minh bạch, kịp thời.

Kiểm tra, giám sát là “thanh bảo kiếm” để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng. Nếu thanh bảo kiếm đó không được sử dụng thường xuyên, đúng lúc, đúng chỗ, thì kỷ cương sẽ lỏng lẻo, vi phạm sẽ gia tăng. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng cao, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cần không ngừng đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng công tác KTGS; ngăn chặn từ xa, phòng ngừa từ sớm, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng.

Bùi Công Vĩ

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/nhan-dien-som-phong-ngua-xa-vi-pham-tu-thuc-tien-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-postid437211.bbg