Nhân kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10: Hai Bà Trưng - Ba mùa Xuân độc lập

Năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt (bao gồm cả đất Âu Lạc cũ) và thu phục các quan lại quý tộc nhà Triệu lập ra nhà Hán (triều Tây Hán), Hán Vũ Đế chia Nam Việt thành 9 quận… Chế độ thống trị về cơ bản vẫn kế tục chính sách của nhà Hán, dù xây dựng bộ máy đô hậu ở cấp châu, quận còn bên dưới vẫn theo chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt... cho đến năm 34, vua Đông Hán cử Tô Định sang làm thái thú Giao Chỉ thay Tích Quang.

Tái hiện cảnh Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa tại Lễ hội truyền thống Kỷ niệm 1984 năm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-2024). (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Tái hiện cảnh Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa tại Lễ hội truyền thống Kỷ niệm 1984 năm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-2024). (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Vốn là người tham lam tàn bạo, Tô Định tìm mọi cách vơ vét, bóc lột nhân dân bằng việc đặt ra nhiều thứ cống phẩm và tô thuế nặng nề, đồng thời thi hành chính sách đồng hóa, khống chế, chèn ép quan lại dưới quyền là các Lạc tướng và quý tộc bản địa, thẳng tay dùng vũ lực trừng trị những người có ý định chống đối. Sự thống trị và bóc lột tàn bạo của Thái thú Tô Định dẫn đến sự phản kháng ngày càng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân Âu Lạc nói chung và Giao Chỉ nói riêng, kể cả tầng lớp Lạc tướng vào quý tộc địa phương đối với chính quyền đô hộ Đông Hán, nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân và các quý tộc địa phương đối với chính quyền đô hộ Đông Hán. Nhiều cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ manh động, thiếu tổ chức nên cuối cùng đều thất bại.

Năm Kỷ Hợi (39), Thi Sách làm quan lệnh huyện Châu Diên muốn cứu nhân dân qua vòng nước sôi lửa bỏng, có đưa thư khuyên Tô Định sửa đổi lại chính trị. Tô Định không những không nghe, lại còn cho bắt, giết Thi Sách.

Vợ ông Thi Sách là bà Trưng Trắc [1] căm hận Tô Định tàn ác với dân, và mối thù giết chồng, cùng em là Trưng Nhị dựng cờ khởi nghĩa. Ban đầu, hai bà tuyển chọn trong năm họ ở làng ấp được 27 người nữ dũng, sau thanh thế ngày càng lớn, bà Trưng tuyển thêm những tay thiện xạ trong vùng; được 8 vạn binh, hai bà đóng đồn ở Châu Diên. Ngày mồng 6 tháng Giêng bắt đầu khởi sự, qua ngày mồng 7, hai bà thao diễn quân sĩ ở bãi Trường Sa bên sông Bạch Hạc (Vĩnh Yên), rồi tiến quân đánh thành Liên Châu là nơi phủ Đô Hộ đóng. Tô Định cùng các bộ thuộc phải bỏ thành chạy sang Nam Hải rồi trốn về nước.

Trong khi nhân dân Giao Chỉ đáp theo tiếng gọi của hai bà Trưng, thì các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cũng nổi lên đánh đuổi quan Thái thú ngoại xâm.

Lấy được 65 thành đất Lĩnh Nam, bà Trưng xưng Vương, đóng đô ở Mê Linh (Phong Châu), lập cung điện ở làng Cổ Lai [2] và từ đấy không chịu nội thuộc Đông Hán (Canh Tý, [năm] 40 Tây lịch).

 Hán Quang Vũ thấy thế lực của Trưng Vương mỗi ngày một lớn sợ gây thành một mối lo ở phương Nam, nên năm Nhâm Dần (42) sai Phục Ba tướng là Mã Viện đem binh sang đánh. Mã Viện là một danh tướng nhà Hán, lúc ấy đã gần 70 tuổi. Vì thế, trong bài thơ miếu Phục Ba ở Long Châu, cụ Mai Sơn có câu sau đây, đầy giọng mỉa mai:

Quắc thước khoe chi mình tóc bạc,
Cân thoa đọ với gái quần hồng.

Mã Viện tập hợp một đạo quân 20.000 người ở gần Bắc Hải (Pakhoi) men theo bờ bể mà tiến đánh nước ta. Thế giặc rất mạnh, thẳng đường kéo xuống trung châu, rồi theo triền sông Thái Bình và sông Thương kéo lên đánh kinh đô Mê Linh.

Hai Bà đem binh chống giữ, giao chiến ở địa phận Sơn Tây - Hà Nội. Lần này quân Hán đại bại, lui về đóng ở giáp hồ Lãng Bạc. Nhưng đến đầu năm Quý Mão (43), Hán Quang Vũ tăng cường cho Mã Viện thêm 50.000 viện binh. Quân này ngầm vào nước ta, hợp với binh Mã Viện. Quân Trưng Vương tiến đánh, vì quân ít, thua trận, quân sỹ phần thì bị thương vong, phần thì theo hai Bà về giữ kinh đô Mê Linh

Mùa Thu năm Quý Mão (43) Mã Viện sai phó tướng là Lưu Long đem binh vây đánh Mê Linh. Dựa vào núi non hiểm trở, hai Bà cố thủ ròng rã mấy tháng trời và dùng lối đánh du kích khiến cho quân nhà Hán bị khốn khó. Về sau, tại Cấm Khê (Sơn Tây), gần sông Đáy, hai bên giao tranh thư hùng, quân hai Bà thất trận. Hai Bà Trưng gieo mình xuống cửa sông Hát Giang mà tự tận. [3]

Người đời sau ca ngợi hai Bà như sau: “Trưng nữ vương vị phu phục thù, đủ muội khởi binh, nhất cử nhi lược định lục thập ngũ thành, tự lập vi vương: cái diệc nữ lưu chi anh kiệt dã - (Việt sử lược đại tổng luận của Tập Hiến Viện)”. [Vua Trưng vì chồng trả thù, cùng em dấy quân, làm một trận mà lược định được 65 thành, tự lập làm vua: ấy cũng là bậc anh kiệt trong đám nữ lưu vậy]. Đồng thời, có nhận xét rằng: “Thời cảm thấy khí thiêng bàng bạc còn mãi với non nước Hồng Lạc mà hai Bà đã hi sinh để mở đường độc lập cho Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê sau này… [4]“ hoặc “Trưng Vương là dòng dõi thần minh, nhân lòng dân ta oán, bà nổi cơn giận, khuyến khích đồng cựu²: nghĩa binh tới đâu, xa gần đều ứng; đất Linh ngoài 65 thành, thu phục trong một lúc; những đàn bị xưa này vô khôi sổ đã lâu, vì nhờ ở dưới giếng sâu, nay được Tây uy ám gội [trời], anh hùng khí khái, hẳn có hơn người. Tuy là quân mới họp tập, nên không thành công, song cũng có thể hạ được cái lòng giận của giời, đất, thần, nhân, hoặc có cảm chăng. Họ Triệu là có nghiệp phục cường, mất về một tay người đàn bà ở Hàm Đan (là Cù Hậu); Thần chán bị người lấn mất, khôi phục được lại là một bà nữ chúa ở Mê Linh. Những người tú mưu tham trí hồi bấy giờ cúi đầu quắp đuôi, không dám làm gì, chẳng cũng đáng ngậm ngùi lắm thay!” (Đại Việt sử ký tiền biên, Ngoại kỷ, quyển 3, tờ 6a-b). Vua Tự Đức (1848-1883) cũng phê trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑑綱目 (Tiền biên, quyển thứ 2, tờ 12a) như sau: “Nhị Trưng dĩ quán thoa chi lưu, nãi năng hùng tâm, nghĩa cử, chấn động Hán đình. Tuy thể nhược, thời quái, diệc túc dĩ hưng khởi nhân tâm, lưu huy sử sách. Bỉ tu mi nam tử liêm nhảm, sự nhân, bất diệc hậu nhân, quý tử hồ?” [Hai bà Trưng là bọn quần thoa mà có lòng anh hùng, làm việc nghĩa khí, chấn động đến Hán đình; tuy thể yếu cho tới trái, nhưng đủ dũng khởi lòng người, lưu mãi một tấm gương trong sử sách. Kia những người tu mi tựu mi khép áo làm đầy tớ người, chẳng cũng mặt dày xấu hổ chết được ư!].

Điều này cho thấy, Hai Bà Trưng đích thực là bậc liệt nữ thứ nhất nước nhà, và ghi năm 40-43 vào niên biểu chính thống, vì ngay từ hồi Bà Trưng, nước Nam ta đã tự chủ vào đầu thế kỷ thứ nhất chứ không phải từ đời nhà Tiền Lý [5]. Như sử gia Lê Văn Hưu (1230 - 1322) bàn: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hiệp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết là hình thế đất Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô trong khoảng hơn nghìn năn, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm thần bộc cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị họ Trưng là đàn bà ư! Ôi! Có thể gọi là tự bỏ mình vậy” [6].

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai nữ vương Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng thể hiện ý chí quật cường và tinh thần chống ngoại xâm mạnh mẽ của người Việt lúc bấy giờ, đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi bờ cõi nước ta, mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt.

Nguyễn Sơn Hùng (tổng hợp)

[1] Bà Trưng Trắc và em là Trưng Nhị người xã Cổ Lai, huyện Châu Diên, quận Phong Châu (nay thuộc mấy tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên), cha làm quan lạc tướng, mẹ húy là Trần Thị Đoan. Năm 19 tuổi, bà Trưng Trắc kết duyên với quan lệnh huyện Châu Diên tên là Thi Sách. (Xem Trưng Vương lịch sử của cụ Cúc Hương Hoàng Thúc Hội, nhà in Đuốc Tuệ, năm 1937).

[2] Quê hương hai Bà

[3] Tri tân nhân vật chí tập chú, Nguyễn Phúc An biên soạn và chú thích, NXB tổng hợp TP HCM, 2023, trang 87-89

[4] Tri tân nhân vật chí tập chú, Nguyễn Phúc An biên soạn và chú thích, NXB tổng hợp TP HCM, 2023, trang 91

[5] Tri tân nhân vật chí tập chú, Nguyễn Phúc An biên soạn và chú thích, NXB tổng hợp TP HCM, 2023, trang 113 -114

[6] Đại Việt sử ký toàn thư, trọn bộ, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú thích và khảo chứng, NXB Hồng Đức, 2025, trang 90).

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/van-hoa/202610/nhan-ky-niem-ngay-phu-nu-viet-nam-20-10-hai-ba-trung-ba-mua-xuan-doc-lap-39617bd/