Nhiệt điện Thái Bình 2: Từ công trình trọng điểm đến sai phạm chỉnh sửa chỉ số quan trắc môi trường
Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 có công suất lớn, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng khu vực Bắc Bộ lại đang vướng vào bê bối chỉnh sửa chỉ số quan trắc môi trường.
Dự án 41.000 tỷ đồng hồi sinh sau "bão giông"

Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.
Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 nằm trong Trung tâm Điện lực Thái Bình, được xây dựng tại xã Mỹ Lộc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (cũ), nay là xã Thái Thụy thuộc tỉnh Hưng Yên. Dự án được khởi công năm 2011, có tổng mức đầu tư lên tới 41.799 tỷ đồng.
Với quy mô tổng diện tích 131,74ha, dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 có công suất 1.200 MW, là dự án nhiệt điện có quy mô công suất lớn tại khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.
Chính phủ giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, nay là Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng quốc gia (PVN), làm chủ đầu tư. PVN điều hành, quản lý dự án, đồng thời phối hợp với kênh phân phối, vận hành của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), dùng nguyên liệu than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) để sản xuất. Với sự tổng hòa của 3 tập đoàn lớn, có thể nói Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 là công trình điểm của ngành năng lượng.
Dự án do Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PetroCons) là tổng thầu EPC; liên danh nhà thầu Sojitz (Nhật Bản) - Dealim (Hàn Quốc) là nhà thầu cung cấp thiết bị chính.
Được biết, nhà máy sử dụng công nghệ than phun tiên tiến đạt hiệu suất cao. Hệ thống xử lý khói thải của nhà máy bao gồm 2 bộ lò khử bụi tĩnh điện, 1 bộ lò khử khí SO2, một bộ lò khử NOx, chất lượng khói thải ra môi trường đạt tiêu chuẩn TCVN 5937-2005. Hệ thống nước thải của nhà máy gồm nước thải công nghệ, nước thải nhiễm dầu, nước thải vệ sinh… được xử lý triệt để theo công nghệ khép kín, đạt yêu cầu theo quy chuẩn QCVN 24:2009/BTNMT.
Nhà máy sử dụng nguồn nhiên liệu than cám được Bộ Công Thương cho phép nhập từ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam với lượng tiêu thụ gần 3 triệu tấn/năm. Nhiên liệu phụ của nhà máy là dầu FO dùng để khởi động và đốt kèm khí phụ tải lò hơi đạt dưới 60% phụ tải định mức. Lượng dầu FO tiêu thụ khoảng 14.400 tấn/năm. Nguyên liệu phụ giúp nhà máy tiết kiệm chi phí vận hành khi điều kiện phụ tải không cho phép chạy hết công suất.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, dự án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, xảy ra nhiều vi phạm phải xử lý, kèm theo đó là thời gian dài dự án bị chậm tiến độ và đình trệ (từ năm 2018 đến năm 2021).
Trải qua nhiều biến động, đến ngày 27/4/2023, nhà máy được khánh thành và phát điện thương mại, hòa lưới điện quốc gia.
Tại Hội nghị tổng kết công tác Đảng, tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2025 và Hội nghị Người lao động năm 2025, ông Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 cho biết, vào hồi 8h07 phút ngày 11/12/2025, NMNĐ Thái Bình 2 chính thức đạt mốc sản lượng phát 15 tỷ kWh điện thương mại.
Ước tính cả năm 2025, tổng sản lượng điện phát đạt 6.287,94 triệu kWh, bằng 102% kế hoạch được giao. Tổng doanh thu đạt hơn 13 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 105% kế hoạch và nộp ngân sách Nhà nước hơn 400 tỷ đồng.
Có thể nói, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã có đóng góp rất lớn trong công tác bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời mang lại nguồn thu ngân sách lớn. Đây là những điểm sáng không thể phủ nhận của dự án này sau nhiều kỳ vọng.
Từng vướng tình trạng ô nhiễm bụi than, người dân kiến nghị

Toàn cảnh Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2.
Về mặt môi trường, khi mới đi vào vận hành, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã gặp vướng mắc khi người dân kiến nghị liên quan tới ô nhiễm bụi than, ô nhiễm tiếng ồn.
Cụ thể, theo báo Nông nghiệp và Môi trường phản ánh hồi năm 2023, nhiều hộ dân của thôn Tân Tiến, xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (cũ) đã chịu ảnh hưởng bởi ô nhiễm bụi than, tiếng ồn do rung lắc từ khi tổ hợp nhiệt điện 2 đi vào hoạt động. Để tránh bụi than vào nhà, hầu hết các hộ dân thôn Tân Tiến đều phải đóng cửa. Trước đó, bà con vẫn giữ thói quen hứng nước mưa từ mái nhà để làm nước sinh hoạt. Tuy nhiên, từ khi có hiện tượng bụi than đổ về, không nhà nào dám sử dụng nước mưa nữa… Bên cạnh ô nhiễm bụi than (dù mới chỉ là bụi than nguyên liệu đầu vào để sản xuất nhiệt điện), các hộ dân còn phản ánh tổ máy hoạt động gây rung lắc cánh cửa, cửa kính, cửa nhà… Trước phản ánh của người dân, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã mời Trung tâm Quan trắc Tài nguyên môi trường (Sở TN-MT tỉnh Thái Bình cũ) tiến hành đo kiểm tại nhiều vị trí gây ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn….
Ban quản lý dự án đã làm việc với Trung tâm quan trắc Tài nguyên môi trường tiến hành đo kiểm các thông số tại các khu vực cảng nhập nhiên liệu và một số hộ dân trong thôn. Kết quả đo các thông số tiếng ồn, độ rung tại vị trí cảng nhập nhiên liệu; Đồn biên phòng Trà Lý, khu dân cư thôn Tân Tiến đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn. Về kết quả đo kiểm tổng bụi lơ lửng, ngày 8/6/2023, BQLDA Điện lực Dầu khí Thái Bình 2 đã thông báo kết quan trắc cho biết, “tổng bụi lơ lửng tại các vị trí khu dân cư đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật”.
Sau đó, phía nhà máy đã thực hiện một số biện pháp nhằm giảm thiểu tác động môi trường. Tuy nhiên, đến tháng 4/2024, theo báo Nhân dân, người dân khu vực quanh nhà máy vẫn có đề nghị lãnh đạo nhà máy tiếp tục có phương án tối ưu để hạn chế đến mức thấp nhất tiếng ồn và nhất là bụi than để cư dân tại đây có cuộc sống tốt hơn, môi trường được cải thiện, tránh những tác động lâu dài về sức khỏe. Khi đó, trao đổi với bà con, lãnh đạo nhà máy cho biết, đơn vị cam kết phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường, đây là nhiệm vụ sống còn.
Và mới đây nhất, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố 74 bị can liên quan vụ án làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường, xảy ra tại 59 doanh nghiệp xả thải và lắp đặt thiết bị quan trắc trên cả nước.
Theo cáo buộc của nhà chức trách, hàng loạt các nhà máy như Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Hải Phòng, Nhiệt điện Thái Bình 2 hay các công ty nhôm, thép, các công ty môi trường là những đơn vị lớn phát ra khí thải, nước thải. Thế nhưng các chỉ số về môi trường khi được truyền về cơ quan quản lý là Sở Nông nghiệp và Môi trường thì đều bị can thiệp, chỉnh sửa từ vượt ngưỡng thành trong ngưỡng cho phép.
Nói về vấn đề này, PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam cho rằng, sự việc chỉnh sửa, làm sai lệch số liệu, dữ liệu quan trắc môi trường tại 59 doanh nghiệp này tác động là rất lớn.
Cụ thể hơn, PGS.TS Lưu Đức Hải cho biết, lâu nay các số liệu đó được dùng để đánh giá thực trạng môi trường Việt Nam. Như vậy, chúng ta đang sử dụng các kết quả gốc bị sai lệch. Số liệu đó được dùng trong rất nhiều báo cáo về môi trường, do đó nhận định về môi trường Việt Nam sẽ bị sai sót. Và cuối cùng, từ sự việc này cho thấy có lỗ hổng về quản lý đối với dữ liệu quan trắc môi trường. "Cần có biện pháp quản lý chặt chẽ từ việc chế tạo và cung cấp thiết bị đến kiểm soát quá trình hoạt động của thiết bị để đảm bảo thông tin chính xác." - PGS.TS Lưu Đức Hải nhấn mạnh.
Trong quá trình điều tra, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường xác định trong số hơn 300 trạm quan trắc môi trường từ các chủ nguồn thải trên cả nước bị lực lượng chức năng khám xét thì có tới gần 160 trạm bị can thiệp, chỉnh sửa làm sai lệch dữ liệu, chiếm khoảng 55%.
Thiếu tướng Thân Văn Hải, Cục trưởng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, thông tin các nghi phạm không chỉ vi phạm theo phương thức xả thải công khai, đơn lẻ mà chuyển sang can thiệp trực tiếp vào hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục nhằm tạo ra một "bức tranh môi trường giả tạo", hợp thức hóa hành vi xả thải trái phép trong thời gian dài.
Hiện lực lượng công an đang tiếp tục rà soát toàn bộ các trạm quan trắc môi trường còn lại trên cả nước với mục tiêu nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường.











