Nhiều vướng mắc cần gỡ khi triển khai quy hoạch điện VIII
Những vướng mắc về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và sự thiếu đồng bộ giữa các công trình cần có giải pháp tháo gỡ, để đưa mục tiêu quy hoạch trở thành năng lực cung ứng điện thực tế.
Từ mục tiêu quy hoạch đến yêu cầu thực thi

Công nhân EVN kiểm tra, giám sát lưới điện. Ảnh: ĐVCC
Theo điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030, công suất đặt toàn hệ thống được định hướng đạt từ 183.291MW đến 236.363MW. Trong giai đoạn 2025-2030, bình quân mỗi năm, hệ thống điện tăng thêm khoảng 16.815-25.660MW.
Quy mô phát triển nguồn điện theo quy hoạch cho thấy yêu cầu bảo đảm năng lượng ngày càng gắn chặt với mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tiến độ các dự án nguồn và lưới điện không chỉ quyết định khả năng đáp ứng phụ tải, mà còn liên quan trực tiếp đến năng lực truyền tải, thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trong tháng 8-2026, các đơn vị thuộc Tập đoàn đã khởi công 20 công trình và đóng điện 16 công trình lưới điện 110-500kV. Lũy kế 8 tháng năm 2026, EVN khởi công 118 công trình, đồng thời đóng điện 116 công trình ở các cấp điện áp 110-500kV.
Một số công trình đạt những mốc tiến độ quan trọng, như đường dây 500/220kV Nho Quan - Phủ Lý - Thường Tín đóng điện toàn bộ ngày 26-7; Trạm biến áp 220/110kV Đại Mỗ và nhánh rẽ 220kV đóng điện phía 220kV đóng điện ngày 20-8.
Tuy nhiên, khối lượng công việc giai đoạn 2026-2030 còn rất lớn. EVN và các đơn vị dự kiến hoàn thành 292 công trình truyền tải điện trong giai đoạn 2026-2030, gồm 78 công trình 500kV và 214 công trình 220kV. Tổng khối lượng dự kiến khoảng 16.665km đường dây và 91.263MVA dung lượng máy biến áp, với nhu cầu vốn đầu tư thuần ước khoảng 157.900 tỷ đồng.
Quy mô này cho thấy áp lực lớn đối với công tác chuẩn bị đầu tư, thu xếp vốn và phối hợp triển khai. Trong đó, xử lý vướng mắc sớm là điều kiện quan trọng để hạn chế nguy cơ dự án kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu điện.
Gỡ nút thắt, bảo đảm đồng bộ nguồn và lưới
Thực tế triển khai các dự án điện cho thấy, một trong những thách thức lớn hiện nay là sự đan xen giữa thủ tục đầu tư, quy hoạch và giải phóng mặt bằng. Theo báo cáo của EVN, một số công trình lưới điện chưa được cập nhật vào quy hoạch tỉnh, quy hoạch phân khu và kế hoạch sử dụng đất hằng năm. Nhiều dự án còn chồng lấn với đường sắt, đường bộ cao tốc, khu công nghiệp, khu đô thị, đất quốc phòng - an ninh hoặc khu vực khoáng sản.
Trong quá trình chuẩn bị đầu tư, việc thỏa thuận hướng tuyến, vị trí trạm tại một số địa phương kéo dài. Có trường hợp sau khi đã thỏa thuận, tuyến công trình vẫn phải điều chỉnh, dẫn đến yêu cầu khảo sát và lập lại phương án.
Cùng với đó, các thủ tục về đất đai, đất rừng, đất lúa, đánh giá tác động môi trường, phòng cháy, chữa cháy, thẩm định thiết kế và cấp phép thi công giao chéo tiếp tục là những nội dung cần tháo gỡ.
Đáng chú ý, giải phóng mặt bằng vẫn là vướng mắc phổ biến tại nhiều dự án. Chậm phê duyệt giá đất, khó xác định nguồn gốc đất, chậm kiểm đếm và phê duyệt phương án bồi thường, cũng như việc người dân chưa đồng thuận đơn giá hoặc chưa bàn giao mặt bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công móng cột và hành lang tuyến.
Từ thực tế đó, EVN kiến nghị các địa phương tổ chức xử lý song song các thủ tục về quy hoạch, vị trí, hướng tuyến, đất rừng, khoáng sản, bồi thường và giải phóng mặt bằng; ưu tiên nhân lực cho các dự án dự kiến đóng điện trong giai đoạn 2026-2027.
Theo các kiến nghị trước đây của Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT), việc xác định quỹ đất cho từng công trình ngay trong quá trình lập quy hoạch sẽ tạo cơ sở để địa phương chủ động bố trí mặt bằng, bảo đảm đồng bộ giữa quy hoạch điện lực và quy hoạch sử dụng đất.
Tại các địa phương, yêu cầu phát triển điện gắn với những khó khăn riêng. Lâm Đồng hiện vận hành 104 dự án nguồn điện với tổng công suất hơn 8.241MW, đồng thời kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế và hướng dẫn liên quan đến đầu tư năng lượng tái tạo.
Trong khi đó, Khánh Hòa hiện có 72 dự án năng lượng đang vận hành và triển khai. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện trên địa bàn dự kiến đạt từ 16.535MW đến 18.935MW với 107 dự án. Địa phương kiến nghị nghiên cứu cơ chế đặc thù nhằm đẩy nhanh triển khai các dự án điện trọng điểm, đồng thời tập trung giải quyết vướng mắc về mặt bằng và thủ tục đầu tư.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là sự đồng bộ giữa nguồn điện và lưới điện. EVN cho biết, tiến độ trạm và đường dây đấu nối tại một số nơi chưa đồng bộ với tiến độ nhà máy điện và phụ tải khu công nghiệp, tiềm ẩn nguy cơ chậm giải tỏa công suất.
Vì vậy, công tác phối hợp cần được thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đối với các dự án nguồn điện xã hội hóa, EVN đề nghị nhà đầu tư đồng thời thực hiện đầu tư các dự án lưới truyền tải, đấu nối theo danh mục được phê duyệt, bảo đảm khả năng giải tỏa công suất.
Được biết, Bộ Công Thương đang rà soát, sửa đổi các quy định còn bất cập, nhất là những nội dung liên quan đến đầu tư dự án nguồn điện quy mô lớn và hạ tầng truyền tải điện. Đây được xác định là cơ sở quan trọng để tháo gỡ vướng mắc. Theo Bộ Công Thương, việc hoàn thành đúng tiến độ các dự án nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
